Từ người con làng Đào Thục đến người tạo hình rối nước
Nghệ nhân Nguyễn Văn Phi sinh năm 1973, quê tại làng Đào Thục, vùng đất thuộc xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội trước đây. Ông trưởng thành trong môi trường văn hóa mà múa rối nước đã hiện diện qua nhiều thế hệ, gắn với sinh họat cộng đồng, lễ hội và những câu chuyện dân gian được người dân lưu truyền.
Múa rối nước Đào Thục có lịch sử hơn 300 năm. Theo tư liệu của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, nghề múa rối nước tại đây gắn với ông tổ nghề Nguyễn Đăng Vinh, còn gọi là Đào Đăng Khiêm. Sau khi tiếp thu nghệ thuật rối nước trong thời gian phục vụ triều đình, ông đã đưa nghề về quê, truyền dạy cho dân làng. Từ đó, phường rối dần hình thành và các tích trò được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Trong không gian văn hóa ấy, Nguyễn Văn Phi sớm có cơ hội tiếp xúc với những con rối và công việc chế tác chúng. Nếu người biểu diễn tạo nên sự sống cho con rối bằng kỹ thuật điều khiển, thì người tạo tác phải hình dung trước hình dáng, cấu trúc và chuyển động của nhân vật ngay từ khi bắt đầu làm ra sản phẩm.
Đây là công việc đòi hỏi sự kết hợp giữa đôi tay khéo léo, khả năng quan sát và hiểu biết về nghệ thuật biểu diễn. Một con rối không chỉ cần có hình dáng đẹp mà còn phải phù hợp với tích trò, có thể vận động theo ý đồ của người điều khiển và thể hiện được đặc điểm của nhân vật.
Đằng sau mỗi con rối là một quá trình tạo tác công phu
Điều thú vị ở nghề tạo tác rối nước là người thợ không đơn thuần làm ra một món đồ thủ công để trưng bày. Sản phẩm của họ được tạo ra để bước vào một không gian biểu diễn đặc biệt, nơi chuyển động của con rối gắn với mặt nước, hệ thống điều khiển và nhịp điệu của âm nhạc, lời hát.
Tại Đào Thục, những con rối truyền thống thường có kích thước khoảng 30–40 cm, được tạo hình sinh động và phủ màu sắc nổi bật. Nhân vật có thể là chú Tễu, những nhân vật trong truyện cổ tích, con trâu, con gà, rồng, phượng hay các hình tượng gắn với cuộc sống lao động của người nông dân.
Với người làm nghề như Nguyễn Văn Phi, mỗi sản phẩm đòi hỏi sự tính toán ngay từ khâu tạo hình. Người thợ phải hình dung nhân vật sẽ xuất hiện như thế nào trước khán giả, bộ phận nào cần chuyển động và hình dáng tổng thể cần được xử lý ra sao để con rối vừa có tính thẩm mỹ, vừa đáp ứng yêu cầu biểu diễn.
Tại Đào Thục, kỹ thuật chế tác còn gắn chặt với đặc điểm riêng của nghệ thuật rối nước địa phương. Theo Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, rối nước Đào Thục có khả năng quay bốn chiều, người điều khiển sử dụng que sào để tạo chuyển động cho con rối. Điều này khiến việc tạo hình và tính toán cấu trúc không thể tách rời yêu cầu vận hành trong thực tế.
Một con rối có thể bắt mắt khi đứng yên nhưng chưa chắc đã phù hợp với sân khấu nước. Ngược lại, sản phẩm đáp ứng tốt yêu cầu biểu diễn cần có sự phối hợp giữa hình dáng, kết cấu và kỹ thuật điều khiển. Chính sự kết hợp ấy tạo nên giá trị riêng của nghề làm rối nước.
Người thợ đứng sau những tích trò dân gian
Múa rối nước Đào Thục lưu giữ nhiều tích trò quen thuộc, từ những câu chuyện cổ tích đến các hình ảnh gắn với sinh hoạt nông nghiệp và đời sống làng quê. Có thể kể đến chú Tễu, Thạch Sanh đánh trăn tinh, trâu chui ống, đánh hổ, dệt cửi, câu ếch hay những màn múa rồng, múa phượng. Bên cạnh các tích trò truyền thống, phường rối còn xây dựng những tiết mục mới gắn với lịch sử và đời sống đương đại.
Để một nhân vật có thể xuất hiện trọn vẹn trong những câu chuyện ấy, người chế tác phải hiểu rằng con rối không phải vật thể độc lập. Nó là một bộ phận của toàn bộ màn diễn, gắn với động tác điều khiển, âm nhạc, lời thoại và phản ứng của khán giả.
Chẳng hạn, hình dáng của một nhân vật dân gian cần đủ rõ nét để người xem nhận ra từ khoảng cách xa. Những chi tiết tạo hình phải góp phần thể hiện tính cách nhân vật, trong khi kết cấu cần hỗ trợ các động tác mà người điều khiển muốn thực hiện.
Vì vậy, nghề chế tác rối nước đòi hỏi người thợ không chỉ có kỹ năng thủ công mà còn phải hiểu ngôn ngữ biểu diễn của loại hình nghệ thuật này. Người làm rối càng am hiểu các tích trò và cách vận hành con rối, sản phẩm càng có khả năng đáp ứng yêu cầu của sân khấu truyền thống.
Trong hành trình của Nguyễn Văn Phi, giá trị của công việc vì thế không chỉ nằm ở việc làm ra những con rối đẹp mắt. Đó còn là khả năng duy trì mối liên hệ giữa kỹ thuật tạo tác với vốn nghệ thuật đã được cộng đồng Đào Thục tích lũy qua nhiều thế hệ.
Khi nghề tạo tác con rối đứng trước nguy cơ mai một
Nếu múa rối nước thường được biết đến qua những buổi biểu diễn, thì nghề tạo tác con rối lại ít xuất hiện trước công chúng hơn. Khán giả có thể nhớ một màn múa vui nhộn hoặc một nhân vật đáng yêu, nhưng không phải lúc nào cũng biết ai đã tạo ra hình hài của nhân vật ấy.
Đây cũng là một thách thức đối với việc bảo tồn múa rối nước Đào Thục. Một di sản trình diễn không chỉ cần người điều khiển con rối, nhạc công hay người thể hiện lời hát, mà còn cần những người có khả năng tạo mới, sửa chữa và duy trì các con rối phục vụ biểu diễn.
Khi số người theo nghề giảm xuống, nguy cơ không chỉ là thiếu người sản xuất con rối mới. Những kinh nghiệm tích lũy qua thực hành, cách xử lý từng chi tiết, khả năng điều chỉnh cấu trúc và những hiểu biết gắn với phong cách tạo hình của địa phương cũng có thể dần mất đi nếu không được truyền lại.
Bởi vậy, câu chuyện của Nguyễn Văn Phi đặt ra một vấn đề rộng hơn: bảo tồn múa rối nước không thể chỉ tập trung vào việc tổ chức biểu diễn hay tu sửa không gian thủy đình. Những công việc ít được nhìn thấy, như chế tác và sửa chữa con rối, cũng cần được quan tâm nếu muốn duy trì đầy đủ các thành tố của di sản.
Giữ nghề bằng cách tạo không gian cho thế hệ sau
Không chỉ gắn bó với nghề tạo tác, Nguyễn Văn Phi còn tham gia vào những họat động gìn giữ và phát triển đời sống văn hóa của làng. Khi chia sẻ về mong muốn phát triển du lịch địa phương, ông nhấn mạnh nhu cầu xây dựng một không gian trải nghiệm mang đậm bản sắc làng quê, trong đó có khu vực phục vụ việc dạy nghề cho thế hệ sau. Mong muốn này cho thấy ông nhìn nhận việc bảo tồn không chỉ ở góc độ giữ lại kỹ thuật, mà còn ở việc tạo điều kiện để người trẻ tiếp xúc và tham gia vào đời sống văn hóa truyền thống.
Đây là một hướng tiếp cận có ý nghĩa đối với những nghề thủ công gắn với di sản trình diễn. Nếu người trẻ chỉ được xem các màn múa rối mà không có cơ hội tìm hiểu cách con rối được tạo ra, một phần quan trọng của di sản sẽ khó được tiếp nhận. Ngược lại, khi được quan sát người thợ làm việc, tìm hiểu vật liệu, thử sức với những công đoạn phù hợp và trực tiếp tham gia các hoạt động trải nghiệm, người học có thể hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa kỹ thuật thủ công và nghệ thuật biểu diễn.
Tất nhiên, để một nghề thực sự được tiếp nối, sự quan tâm ban đầu cần đi cùng những điều kiện lâu dài: người truyền nghề, không gian thực hành, nguyên liệu, công cụ và cơ hội để người học tiếp tục làm nghề. Với tạo tác rối nước, việc duy trì nhu cầu sử dụng sản phẩm trong hoạt động biểu diễn cũng là yếu tố quan trọng.
Mong muốn của Nguyễn Văn Phi về một không gian dạy nghề vì vậy không chỉ là câu chuyện xây dựng thêm một địa điểm cho khách tham quan. Đó còn là mong muốn tạo ra môi trường để kỹ thuật chế tác được tiếp tục thực hành, để người trẻ hiểu rằng phía sau mỗi màn diễn là công sức của những người làm nghề.
Những con rối và ký ức văn hóa của làng Đào Thục
Làng Đào Thục được biết đến với lịch sử múa rối nước hơn ba thế kỷ. Qua thời gian, phường rối vẫn duy trì các tích trò truyền thống, đồng thời xây dựng thêm những tiết mục mới để kể câu chuyện về quê hương, đất nước và đời sống hiện đại. Những con rối được người dân địa phương tạo tác chính là một phần vật chất giúp các câu chuyện ấy tiếp tục được trình diễn.
Trong mối liên hệ đó, nghề tạo tác rối nước của Nguyễn Văn Phi có thể được nhìn nhận như một phần ký ức văn hóa được lưu giữ bằng đôi tay. Mỗi sản phẩm không chỉ mang hình dáng của một nhân vật mà còn gắn với cách cộng đồng hình dung, kể lại và trình diễn những câu chuyện quen thuộc.
Bảo tồn nghề vì thế không đơn thuần là giữ lại một kỹ thuật làm đồ gỗ. Đó còn là duy trì khả năng để cộng đồng tự tạo ra những nhân vật của mình, tiếp tục kể những câu chuyện của mình và trao truyền nghệ thuật cho những người đến sau.
Từ góc nhìn ấy, giá trị của Nguyễn Văn Phi không chỉ nằm ở việc ông vẫn còn làm ra những con rối trong thời điểm nghề tạo tác ngày càng ít người theo đuổi. Điều đáng chú ý hơn là công việc của ông cho thấy một di sản trình diễn cần được bảo vệ từ nhiều phía: từ sân khấu và người biểu diễn đến xưởng chế tác, từ kỹ thuật tạo hình đến môi trường truyền nghề.
Hành trình của Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Văn Phi là câu chuyện về một người thợ chọn gắn bó với phần việc thầm lặng của nghệ thuật truyền thống. Trong khi những con rối chỉ xuất hiện trên mặt nước trong một khoảng thời gian ngắn, công sức tạo tác để chúng có hình hài và chuyển động lại được tích lũy qua nhiều giờ lao động tỉ mỉ.
Giữ nghề, với ông, không chỉ là tiếp tục làm ra những con rối mới. Đó còn là giữ lại kỹ thuật, kinh nghiệm và khả năng sáng tạo để những nhân vật dân gian vẫn có thể bước lên sân khấu, kể tiếp câu chuyện của làng quê Việt Nam qua các thế hệ.
Và để những màn múa rối nước Đào Thục tiếp tục sống động trong tương lai, những người làm nghề phía sau sân khấu như Nguyễn Văn Phi cần được nhìn nhận đúng với vai trò của mình: những người không chỉ tạo hình cho con rối, mà còn góp phần giữ gìn hình hài của một di sản văn hóa.









