Lễ hội Đền Lảnh Giang được tổ chức tại Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Đền Lảnh Giang, nay thuộc tổ dân phố Yên Lạc, phường Duy Tân, tỉnh Ninh Bình; theo địa danh hành chính trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, di tích thuộc thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Đền có tên chữ là Lãnh Giang linh từ, trong dân gian còn được gọi là Đền Lảnh hoặc Đền Quan Lớn Đệ Tam. Di tích nằm trong không gian cư trú ven sông Hồng và có mối quan hệ mật thiết với hệ thống tín ngưỡng của cư dân vùng hạ châu thổ sông Hồng. Đền Lảnh Giang được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1996. Đến năm 2017, Lễ hội Đền Lảnh Giang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2459/QĐ-BVHTTDL ngày 20/6/2017.
Đối tượng thờ
Theo thần tích được lưu giữ tại di tích, Đền Lảnh Giang thờ ba vị tướng - thủy thần thời Hùng Duệ Vương, được nhân dân tôn là Quan Lớn Đệ Tam trong hệ thống thần điện của tín ngưỡng thờ Mẫu. Đền đồng thời phối thờ công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử.
Việc phụng thờ các vị thủy thần tại Lảnh Giang gắn với môi trường sông nước của vùng hạ lưu sông Hồng. Theo quan niệm dân gian, khu vực này từng là nơi giao nhau giữa sông Hồng và nhánh sông Lảnh, hình thành những dòng nước xoáy mạnh, gây nguy hiểm cho thuyền bè qua lại. Người dân đến đền cầu xin thần linh phù hộ, từ đó hình thành mối liên hệ giữa không gian thờ tự với nhu cầu bảo hộ con người trước những biến động của sông nước.
Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của lễ hội
Lễ hội Đền Lảnh Giang phản ánh nhiều lớp văn hóa được tích hợp trong quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng địa phương. Lớp văn hóa sớm nhất là tục thờ thủy thần của cư dân ven sông Hồng; tiếp đó là tín ngưỡng thờ Tiên Dung - Chử Đồng Tử. Về sau, cùng với sự phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu, các vị thủy thần tại Đền Lảnh Giang được hội nhập vào hệ thống thần điện của tín ngưỡng này với tư cách Quan Lớn Đệ Tam. Cục Di sản văn hóa nhận định chính quá trình tiếp biến và tích hợp này tạo nên diện mạo đặc sắc của lễ hội.
Trong lịch sử, lễ hội từng được tổ chức thành hai kỳ trong năm, gồm kỳ tháng 6 và kỳ tháng 8 âm lịch. Theo tư liệu của Cục Di sản văn hóa, trước năm 1996, lễ hội tháng 8 được cộng đồng coi là kỳ hội chính, trong khi kỳ tháng 6 chủ yếu dành cho khách thập phương. Sau khi Đền Lảnh Giang được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1996, cộng đồng và chính quyền địa phương tổ chức phục dựng lễ hội sau một thời gian gián đoạn, đồng thời đưa nhiều nghi thức truyền thống của kỳ hội tháng 8 vào lễ hội tháng 6. Hiện nay, lễ hội tháng 6 là kỳ hội chính, còn tháng 8 chủ yếu thực hiện các nghi thức dâng hương, tế tạ.
Thời gian tổ chức
Lễ hội truyền thống Đền Lảnh Giang hiện nay lấy kỳ hội tháng 6 âm lịch làm kỳ hội chính. Tư liệu của Cục Di sản văn hóa ghi nhận lễ hội chính được tổ chức từ mùng 1 đến mùng 4 tháng 6 âm lịch, sau đó tiếp tục có các nghi lễ gắn với chính tiệc của Quan Lớn Đệ Tam vào cuối tháng 6; ngày 25 tháng Sáu làm lễ tạ thánh.
Trong năm 2026, kế hoạch của phường Duy Tân tổ chức Lễ hội Đền Lảnh Giang từ ngày 13 đến ngày 17/7/2026, tức từ ngày 1 đến ngày 5 tháng 6 năm Bính Ngọ; lễ khai mạc diễn ra ngày 14/7, tức ngày 2 tháng 6 âm lịch. Chương trình thực tế năm 2026 tiếp tục duy trì các nghi lễ truyền thống như cáo yết, rước nước, rước kiệu Thánh, tế thần và dâng hương.
Phần lễ
Phần lễ của hội Đền Lảnh Giang được tổ chức theo trình tự tương đối chặt chẽ, trong đó các nghi thức đều gắn với đối tượng phụng thờ và môi trường văn hóa sông nước của địa phương.
Mở đầu là lễ cáo yết, diễn ra trước khi chính thức khai hội nhằm xin phép thần linh cho mở hội. Sau đó là lễ rước nước, một nghi thức quan trọng diễn ra vào sáng mùng 1 tháng 6. Đoàn rước từ đền ra khu vực bờ sông, thực hiện lễ tế Long Vương, rồi xuống thuyền ra giữa dòng để lấy nước mang về đền thờ.
Lễ rước kiệu được tổ chức vào mùng 2 tháng 6. Đoàn rước từ Đền Lảnh Giang đến đền Mẫu để rước chân nhang Mẫu thân của Tiên Dung là Nhân Từ Hoàng hậu về dự hội, sau đó đưa trở lại Đền Lảnh Giang. Nghi thức này có sự tham gia của nhiều đội hình như đội múa rồng, cờ hội, trống, chiêng, nhạc, múa sênh tiền, đội khiêng kiệu và các đội tế, dâng hương.
Ngày mùng 3 tháng 6 diễn ra lễ tế thần, gồm các tuần tế sơ hiến, á hiến, chung hiến và lễ tất. Ngày mùng 4, cộng đồng tiến hành lễ rước Mẫu hồi cung, khép lại phần nghi lễ chính của kỳ hội.
Phần hội
Bên cạnh hệ thống nghi lễ trang nghiêm, phần hội tạo nên không gian sinh hoạt cộng đồng với các hoạt động văn hóa và trò chơi dân gian. Tư liệu của Cục Di sản văn hóa ghi nhận những trò chơi như đi cầu khỉ, bắt vịt dưới ao và đẩy gậy, qua đó tạo cơ hội để người dân cùng tham gia, giao lưu và chia sẻ không khí hội làng.
Trong những năm gần đây, chương trình lễ hội còn được mở rộng với các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao. Tại lễ hội năm 2026, địa phương tổ chức các trò chơi và hoạt động như kéo co, đẩy gậy nam, đi cầu khỉ trên cạn, bịt mắt đánh trống, đồng thời có chương trình giao lưu văn nghệ phục vụ nhân dân và du khách.
Những nghi thức đặc trưng
Điểm nổi bật nhất trong hệ thống nghi lễ của Lễ hội Đền Lảnh Giang là tục rước nước. Sau lễ tế Long Vương tại bờ sông, đoàn rước sử dụng thuyền đi ra giữa dòng để lấy nước đưa về đền. Nước được múc vào hai chóe và rước về đền để thờ. Nghi thức này thể hiện rõ mối quan hệ giữa cộng đồng với môi trường sông nước, đồng thời phản ánh quan niệm tín ngưỡng về nước như một yếu tố có khả năng quyết định trực tiếp tới đời sống, sản xuất và sự an toàn của cư dân.
Bên cạnh rước nước, rước kiệu cũng là nghi thức có quy mô lớn, huy động sự tham gia của nhiều dòng họ, đoàn thể và thành viên trong cộng đồng. Công tác chuẩn bị cho đội hình rước được cộng đồng phân công, tập luyện từ trước, qua đó cho thấy lễ hội không chỉ được thực hành tại không gian đền mà còn là quá trình tổ chức xã hội có sự tham gia rộng rãi của cư dân địa phương.
Một nét đặc biệt khác của lễ hội là thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và diễn xướng hầu thánh. Trong quá trình lịch sử, hình tượng các vị thủy thần tại Lảnh Giang được tích hợp vào hệ thống thần điện thờ Mẫu với tư cách Quan Lớn Đệ Tam. Vì vậy, lễ hội trở thành một không gian biểu hiện sự giao thoa giữa tín ngưỡng thờ thủy thần bản địa và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.
Giá trị văn hóa và cộng đồng
Lễ hội Đền Lảnh Giang là một trường hợp tiêu biểu cho quá trình tích hợp và tiếp biến các lớp văn hóa tín ngưỡngtrong lịch sử. Từ tục thờ thủy thần của cư dân ven sông Hồng, lễ hội tiếp nhận tín ngưỡng Tiên Dung - Chử Đồng Tử và về sau hội nhập với hệ thống thần điện của tín ngưỡng thờ Mẫu. Chính quá trình này tạo nên một không gian tín ngưỡng đa lớp, trong đó các yếu tố lịch sử, truyền thuyết, tín ngưỡng và môi trường sinh thái sông nước cùng tồn tại và được cộng đồng tái hiện qua thực hành lễ hội.
Các nghi thức rước nước, rước kiệu, tế lễ và bơi chải phản ánh sâu sắc đời sống của cư dân vùng hạ châu thổ sông Hồng, nơi nước vừa là nguồn sống vừa có thể trở thành mối đe dọa đối với sản xuất và cư trú. Lễ hội vì thế gắn với những ước vọng về sự bình an, mưa thuận gió hòa, mùa màng và cuộc sống ổn định của cộng đồng.
Ở phương diện xã hội, lễ hội là một không gian để cộng đồng cùng tổ chức, phân công, thực hành nghi lễ và duy trì quan hệ giữa các dòng họ, đoàn thể và cư dân trong làng. Việc nhiều nhóm trong cộng đồng đảm nhận các vị trí khác nhau trong đoàn rước và nghi lễ cho thấy vai trò chủ thể của người dân trong việc duy trì di sản. Cục Di sản văn hóa ghi nhận lễ hội góp phần giáo dục truyền thống, tạo môi trường giao lưu và củng cố sự gắn kết cộng đồng.
Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và thực hành tín ngưỡng, Lễ hội Đền Lảnh Giang được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017. Việc ghi danh đồng thời khẳng định vai trò của cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn, thực hành và truyền nối lễ hội trong đời sống đương đại.










