Pho tượng được phát hiện ngay trong khuôn viên đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh, sau nhiều thế kỷ nằm sâu dưới lòng đất. Qua nghiên cứu về chất liệu, hình khối và dấu vết chế tác, các nhà khoa học xác định hiện vật có niên đại thời Lý, khoảng thế kỷ XII. Tượng được tạc từ một khối đá sa thạch màu xanh xám, có kích thước lớn và trọng lượng ước khoảng 3 tấn. Hiện nay, bảo vật được lưu giữ, bảo vệ và phát huy giá trị trực tiếp tại Ban Quản lý Đền thờ Lê Văn Thịnh, thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
Điểm gây ấn tượng mạnh nhất ở hiện vật này chính là hình dáng kỳ lạ, gần như không có tiền lệ trong truyền thống tạo hình Đông Nam Á. Thân tượng được tạo thành từ hai phần đứt rời nhưng cuộn chặt, ăn chéo và gắn kết thành một chỉnh thể thống nhất. Phần đầu uốn cong, há miệng lớn, để lộ hàm răng sắc nhọn như đang cắn vào thân đuôi phía trên. Toàn thân phủ vảy cá chép, đầu không râu bờm, mắt tròn lồi, tai một bên đặc một bên rỗng, chân khuỳnh rộng với năm móng vuốt bấu chặt. Tất cả tạo nên một hình tượng vừa dữ dội vừa sống động, mang sức biểu đạt mạnh mẽ hiếm thấy trong điêu khắc đá cổ Việt Nam.

Nhờ những giá trị nổi bật về tính độc bản, hình thức thể hiện và ý nghĩa lịch sử, Tượng Rồng đá đã được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2599/QĐ-TTg năm 2013. Danh hiệu này khẳng định vị thế đặc biệt của hiện vật trong hệ thống di sản Việt Nam, đồng thời cho thấy tầm vóc vượt ra ngòai khuôn khổ một tác phẩm điêu khắc thông thường.
Về phương diện lịch sử, pho tượng gắn chặt với Thái sư Lê Văn Thịnh, người được xem là thủ khoa khai khoa của nền khoa bảng Hán học Việt Nam và là một đại thần có nhiều công lao đối với vương triều Lý. Hình ảnh rồng cắn đuôi, cùng chi tiết một tai đặc một tai rỗng, từ lâu đã được các nhà nghiên cứu liên hệ với vụ án oan nổi tiếng “Hóa hổ giết vua” năm 1096. Vì thế, pho tượng không chỉ là một hiện vật nghệ thuật mà còn như một “bản ghi chép bằng đá” về nỗi oan khiên, về những lớp nghĩa lịch sử chưa bao giờ thôi ám ảnh hậu thế.
Hình tượng nửa rồng nửa rắn của bảo vật phản ánh sự dung hợp giữa tín ngưỡng bản địa và nghệ thuật cung đình thời Lý. Rắn vốn gắn với thần nước, sự tái sinh và quyền năng tự nhiên trong đời sống cư dân nông nghiệp vùng sông Hồng; khi được “rồng hóa” bằng vảy, móng vuốt và dáng vẻ uy nghi, hình tượng ấy trở thành một biểu trưng mới của sức mạnh và quyền lực. Tư thế ghì siết, vận động của pho tượng cũng gợi mở những suy tư về biến dịch, nội đấu và khả năng chuyển hóa những uẩn khúc lịch sử thành một giá trị tinh thần trong văn hóa Việt.

Tượng Rồng đá là một thành tựu nổi bật của nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XII. Các đường nét vừa mềm mại vừa gân guốc, các khối thân tròn đầy nhưng vẫn sắc sảo, cho thấy bàn tay tài hoa và trình độ xử lý đá sa thạch rất cao của nghệ nhân đương thời. Đặc biệt, vết đứt phẳng, gọn giữa hai phần thân được giới nghiên cứu nhìn nhận như một chủ ý nghệ thuật, chứ không phải dấu vết gãy vỡ ngẫu nhiên. Chính yếu tố này làm tăng thêm tính bí ẩn và giá trị thẩm mỹ độc nhất vô nhị của hiện vật.
Ngày nay, Tượng Rồng đá giữ vai trò trung tâm trong không gian văn hóa tâm linh của đền thờ Lê Văn Thịnh. Sự hiện diện của bảo vật không chỉ làm nổi bật giá trị của di tích mà còn góp phần định danh Gia Bình, Bắc Ninh như một vùng đất giàu truyền thống khoa bảng và văn hiến. Đồng thời, hiện vật còn tạo nên sự kết nối chặt chẽ giữa di tích, cộng đồng địa phương và hệ thống di sản thời Lý trên phạm vi cả nước, qua đó thúc đẩy du lịch văn hóa, giáo dục lịch sử và nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc.









