
Lăng Dinh Hương thuộc làng Dinh Hương, xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh (Trước đây là thôn Dinh Hương, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang). Lăng là nơi an táng và thờ Quận công La Qúy Hầu, tên thật là La Đoan Trực, sinh năm 1688, mất năm 1749. Công trình thuộc lọai hình lăng mộ kết hợp thờ tự của quan lại dưới thời Lê Trung hưng và được các nguồn địa phương ghi nhận đã xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1965.
Quận công La Quý Hầu
Theo tài liệu được Báo Bắc Giang công bố, La Đoan Trực từng làm quan dưới ba triều vua thời Lê Trung hưng, hai lần được cử đi sứ phương Bắc và được phong Phúc thần sau khi mất. Một nguồn của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi rằng năm 1730, dưới triều vua Lê Duy Phường, ông được cử làm Dịch quân thị hầu, Thị đội, sau đó làm thái giám.
Lăng được xây dựng khi La Đoan Trực còn sống. Các nguồn hiện công bố hai mốc bắt đầu xây dựng khác nhau. Tài liệu của Báo Bắc Giang ghi năm 1727; bài viết của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết công trình được khởi dựng năm 1729 và hoàn thành năm 1749 theo nội dung văn bia.
Mặt bằng tổng thể
Khu lăng nằm trên một khu đất cao, có diện tích khoảng một héc-ta và được bao quanh bằng tường đá ong. Mặt bằng được phân thành ba bộ phận: khu mộ táng ở giữa, khu thờ tự ở bên trái và khu nhà bia ở bên phải.
Các bộ phận kiến trúc được tổ chức thành những khu vực riêng, có tường bao và lối đi kết nối. Đá ong được sử dụng để xây tường, bậc và một số kết cấu kiến trúc; đá xanh được sử dụng để chế tác tượng, sập, ngai, án thờ, bàn đá, bia và các đồ thờ khác.



Ảnh: Doãn Trung Hiếu
Khu mộ táng
Khu mộ có mặt bằng gần vuông, diện tích khoảng 100 m² và được xây tường đá ong bao quanh. Bên trong là nơi an táng Quận công La Quý Hầu. Phía trước khu mộ đặt hai nhóm tượng võ quan dắt ngựa đứng đối diện nhau.
Theo số liệu khảo sát của Vũ Văn Hiệp, hai tượng võ quan dắt ngựa cao khoảng 1,49 m, đường kính thân khoảng 0,39 m và đặt cách nhau 4,87 m. Mỗi võ quan được thể hiện trong tư thế một tay nắm đốc kiếm, một tay cầm dây cương; trang phục gồm mũ có khăn che gáy, áo quần dài và chân để trần.
Hai nhóm tượng có bố cục tương ứng nhưng khác nhau ở khuôn mặt, kiểu mũ và một số chi tiết trang phục. Võ quan bên trái có khuôn mặt nhỏ và râu dài; võ quan bên phải có khuôn mặt lớn và hàm rộng. Ngựa được thể hiện cùng yên, cương, bờm, chuông và các dải trang trí trên thân.
Gần cổng khu lăng còn có một đôi tượng võ quan cầm trùy. Nghiên cứu năm 2021 ghi nhận mỗi tượng cao khoảng 1,8 m, vai rộng khoảng 0,5 m; nhân vật đội mũ, mặc áo dài, thắt đai có hình hổ phù và cầm trùy đặt chéo trước thân.
Khu thờ tự
Khu thờ tự có mặt bằng vuông, tường vây xây bằng đá ong và phía trước có bậc cấp. Các hiện vật được ghi nhận tại đây gồm sập đá, ngai thờ, nhang án, bàn đá, đỉnh hương, tượng người hầu, tượng nghê và tượng voi.
Phía trong khu thờ có hai tượng nữ quan đứng đối diện hai bên ban thờ. Một tượng cầm tráp, tượng còn lại cầm quạt. Mỗi tượng cao khoảng 0,9 m, rộng 0,39 m và dày 0,38 m; nhân vật mặc áo dài, chân để trần, phần cổ áo được chạm họa tiết lá sen.
Các tượng nghê được đặt tại khu vực án thờ. Hình tượng này được thể hiện ở dạng tượng tròn, thân có các lớp vảy, đầu có bờm và tư thế ngồi. Một nghiên cứu về hình tượng nghê trong hệ thống lăng đá Bắc Bộ ghi nhận tượng nghê tại Lăng Dinh Hương được đặt hai bên khu thờ và có tượng cao khoảng 1,2 m.
Phía ngoài khu thờ đặt một đôi voi đá trong tư thế phủ phục. Voi được tạc từ khối đá lớn, đặt trên bệ; vòi cuộn, ngà nhô về phía trước, tai mở sang hai bên và đuôi vắt về một phía.
Nhà bia và văn tự
Nhà bia nằm bên phải khu mộ. Công trình có bốn mặt mở, sử dụng các cửa cuốn vòm và đặt bia đá ghi thông tin về người được thờ. Trên bốn cột đá của nhà bia có các câu đối chữ Hán được chạm trên cả hai mặt cột.
Chữ Hán còn xuất hiện trên mặt án thờ, bia và một số cấu kiện đá khác. Nghiên cứu năm 2021 ghi nhận mặt trước án thờ có phần văn tự ghi công trạng của La Quận công, kết hợp với các dải hoa văn hình học chạm nổi.
Hoa văn trang trí
Các mô-típ được ghi nhận tại di tích gồm mây lửa, xoắn ốc, hổ phù, lá sen, ô trám, chữ T, hình khánh, hoa văn móc và những dải hình học lồng vào nhau. Các hoa văn này xuất hiện trên yên ngựa, ngai thờ, đỉnh hương, án thờ, sập đá và các cấu kiện của nhà bia.
Trên yên và tấm vải phủ lưng ngựa có các dải ô trám, hình khánh, đường móc nối tiếp và các đường viền chạm nổi. Đỉnh hương được trang trí bằng những dải hoa văn chữ T; ngai và án thờ sử dụng các mô-típ hình học, mây xoắn và hổ phù.
Xếp hạng và tu bổ
Các bài viết của cơ quan báo chí và ngành du lịch địa phương đều ghi Lăng Dinh Hương được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1965.













