Cụm di tích Bà Tấm có lịch sử hình thành từ thời Lý. Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, quê hương của Ỷ Lan xưa thuộc hương Thổ Lỗi, sau đổi thành hương Siêu Loại. Năm 1115, bà cho xây dựng tại quê hương ngôi Linh Nhân Tư Phúc tự. Đây chính là ngôi chùa về sau thường được dân gian gọi là chùa Bà Tấm.
Đền Bà Tấm, còn gọi là đền Nguyên Phi Ỷ Lan, nằm trong cụm di tích đền – chùa Bà Tấm tại xã Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, di tích thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm. Xã Dương Xá sau đó được nhập vào xã Gia Lâm mới theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15. Đây là một trong những di tích tiêu biểu gắn với Nguyên phi Ỷ Lan, sau là Linh Nhân Hòang Thái hậu, nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử vương triều Lý. Đền cùng ngôi chùa cổ trong khuôn viên tạo thành một không gian vừa thờ Phật, vừa tưởng niệm và tôn vinh Ỷ Lan tại chính vùng quê gắn với cuộc đời bà. Cụm di tích đền – chùa Bà Tấm được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia năm 1996.
Lịch sử hình thành
Cụm di tích Bà Tấm có lịch sử hình thành từ thời Lý. Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, quê hương của Ỷ Lan xưa thuộc hương Thổ Lỗi, sau đổi thành hương Siêu Lọai. Năm 1115, bà cho xây dựng tại quê hương ngôi Linh Nhân Tư Phúc tự. Đây chính là ngôi chùa về sau thường được dân gian gọi là chùa Bà Tấm.
Đến năm 1117, sau khi Ỷ Lan qua đời, đền thờ bà được dựng trong khu vực này. Từ đó, đền – chùa Bà Tấm trở thành một quần thể tín ngưỡng đặc biệt: chùa là nơi thờ Phật, trong khi đền là nơi tưởng niệm và thờ Linh Nhân Hoàng Thái hậu.
Trong nhiều thế kỷ tiếp theo, di tích được tu bổ và mở rộng qua nhiều giai đoạn. Hệ thống văn bia còn lại cho biết trong các thế kỷ XVI, XVII và XVIII, nhiều vương phi, quận chúa họ Trịnh cùng nhân dân địa phương đã đóng góp tiền của để sửa chữa, tu bổ chùa. Những lớp kiến trúc và di vật còn lại ngày nay vì vậy phản ánh một quá trình tồn tại kéo dài từ thời Lý qua Lê Trung Hưng, Nguyễn đến thời hiện đại.
Nguyên phi Ỷ Lan và dấu ấn trong lịch sử
Ỷ Lan là phi tần của vua Lý Thánh Tông và là mẹ của vua Lý Nhân Tông. Bà từng hai lần tham gia nhiếp chính, để lại dấu ấn đáng kể trong hoạt động trị quốc của vương triều Lý. Các nguồn của ngành văn hóa và địa phương đều ghi nhận vai trò của bà trong việc ổn định đời sống xã hội, chăm lo sản xuất và phát triển Phật giáo.
Trong đời sống dân gian vùng Kinh Bắc, hình tượng Ỷ Lan dần được bao phủ bởi nhiều lớp truyền thuyết. Người dân gọi bà là Bà Tấm, gắn hình ảnh của bà với sự nhân hậu, đức độ và những việc làm tốt đẹp. Chính tên gọi dân gian này về sau trở thành tên quen thuộc của cả đền và chùa.
Không gian kiến trúc
Cụm đền – chùa Bà Tấm vốn được xây dựng trên một gò đất cao, rộng, nằm bên hữu ngạn dòng Thiên Đức. Trải qua nhiều thế kỷ, bố cục mặt bằng và các công trình kiến trúc đã có nhiều biến đổi. Kiến trúc hiện tồn bao gồm khu đền, chùa, nhà thờ Mẫu cùng một số đơn nguyên phụ trợ.
Các công trình kiến trúc nhìn thấy hiện nay phần lớn mang dấu vết của những lần tu bổ về sau. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết tòa đền hiện tại được xây dựng khoảng nửa đầu thế kỷ XX, còn kiến trúc chùa đã có đợt xây dựng lớn khoảng những năm 1980. Vì vậy, giá trị đặc biệt của di tích không chỉ nằm ở kiến trúc hiện tồn mà còn ở hệ thống di vật và dấu tích khảo cổ nằm dưới lòng đất. Những nghiên cứu khảo cổ học đã giúp nhận diện rõ hơn quy mô và diện mạo của kiến trúc thời Lý tại đây. Các cuộc khai quật vào năm 2005 và 2013 phát hiện dấu tích móng, nền, hệ thống thoát nước, chân tảng và thành bậc kiến trúc. Đáng chú ý là những thành bậc trang trí chim phượng, tượng sấu và văn sóng nước, cùng nhiều vật liệu xây dựng và trang trí kiến trúc mang phong cách nghệ thuật thời Lý.
Ảnh: Doãn Trung Hiếu
Tại tầng văn hóa thời Lý, khảo cổ học còn phát hiện gạch lát nền trang trí hoa mẫu đơn, hoa sen, hoa cúc; ngói mũi hài, đầu ngói trang trí hoa sen; lá đề trang trí rồng; tượng uyên ương, mảnh tượng Kim Cương và nhiều hiện vật bằng đá sa thạch, đất nung. Đặc biệt, một viên gạch mang dòng chữ ghi niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh năm thứ 7 (1066) đã cung cấp thêm tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu kiến trúc và vật liệu xây dựng thời Lý tại khu vực này.
Hệ thống di vật và cổ vật
Bên cạnh các dấu tích khảo cổ, cụm di tích còn lưu giữ một hệ thống di vật có niên đại trải dài qua nhiều thời kỳ. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận tại đây có tượng sư tử đá, thành bậc đá trang trí sấu, chim phượng và hoa cúc dây; vật liệu kiến trúc thời Lý; bia đá thời Lê và Nguyễn; cùng các chân tảng đá sa thạch thời Lý – Trần.
Một số bia đá có niên đại xác định như bia năm Hoằng Định 17 (1617), Đức Long 7 (1635), Dương Hòa 7 (1641) và Bảo Đại 18 (1943). Hệ thống bia ký là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử tu bổ, công đức và sự tồn tại của di tích qua các thời kỳ.
Hai Bảo vật quốc gia
Cụm di tích đền – chùa Bà Tấm hiện lưu giữ hai nhóm hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 15/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
Đôi tượng sư tử đá thời Lý
Đôi tượng sư tử đá có niên đại thế kỷ XII, hiện được đặt tại tòa Tam bảo của chùa. Mỗi tượng cao khoảng 104 cm, chiều rộng từ 130 đến 136 cm. Đây thực chất là những bệ đặt tượng Phật được tạo hình thành sư tử. Nghệ thuật tạo hình tập trung mạnh vào phần đầu với thần thái uy nghi, kết hợp giữa điêu khắc tượng tròn và phù điêu. Cách thể hiện này cho thấy những đặc trưng nổi bật của nghệ thuật điêu khắc thời Lý và có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam.
Tượng sư tử đá có niên đại thế kỷ XII, hiện được đặt tại tòa Tam bảo của chùa. Ảnh: Doãn Trung Hiếu
Khám thờ gỗ sơn son thếp vàng thời Mạc
Khám thờ có niên đại thế kỷ XVI, được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng. Hiện vật cao khoảng 170 cm, được cấu tạo như một công trình kiến trúc thu nhỏ với ba phần chính gồm mái, thân và chân đế.
Phần mái được tạo theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, với hệ thống trang trí hoa chanh, hoa thị và nhiều chi tiết chạm khắc đặc trưng. Khám thờ là hiện vật quan trọng phản ánh kỹ thuật chế tác gỗ, nghệ thuật trang trí và kiến trúc tôn giáo thời Mạc. Việc hai hiện vật thuộc hai giai đoạn Lý và Mạc cùng được lưu giữ tại một di tích cho thấy chiều sâu lịch sử và sự tiếp nối của các lớp văn hóa tại đền – chùa Bà Tấm.
Khám thờ có niên đại thế kỷ XVI, được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng. Ảnh: Doãn Trung Hiếu
Giá trị lịch sử và khảo cổ học
Giá trị nổi bật của Đền Bà Tấm trước hết nằm ở mối liên hệ trực tiếp với Linh Nhân Hòang Thái hậu Ỷ Lan và lịch sử vương triều Lý. Di tích vừa là nơi tưởng niệm một nhân vật lịch sử quan trọng, vừa lưu giữ dấu tích của một trung tâm Phật giáo được hình thành từ đầu thế kỷ XII.
Kết quả khảo cổ học còn cho phép nhận diện nhiều lớp kiến trúc kế tiếp nhau. Bên dưới kiến trúc hiện tại là dấu tích thời Lý; phía trên là các lớp kiến trúc Lê Trung Hưng, cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX và các giai đoạn tu bổ sau đó. Đây là nguồn tư liệu có giá trị để nghiên cứu quá trình biến đổi kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng ở vùng châu thổ Bắc Bộ. Hệ thống tượng đá, thành bậc, vật liệu kiến trúc, bia ký và hai Bảo vật quốc gia giúp Đền – Chùa Bà Tấm trở thành một địa điểm có giá trị đặc biệt đối với nghiên cứu mỹ thuật thời Lý, kiến trúc Phật giáo, điêu khắc đá và lịch sử văn hóa Thăng Long – Kinh Bắc.
Đời sống tín ngưỡng và lễ hội
Cùng với giá trị vật thể, di tích vẫn là một không gian sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng địa phương. Tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận các kỳ lễ lớn truyền thống vào ngày 19 tháng Hai và ngày 25 tháng Bảy âm lịch hằng năm. Trong đó, ngày 25 tháng Bảy âm lịch gắn với ngày mất của Linh Nhân Hòang Thái hậu. Lễ hội là dịp nhân dân tưởng niệm công lao của Ỷ Lan, đồng thời duy trì các thực hành tín ngưỡng và sinh họat văn hóa cộng đồng đã tồn tại lâu đời tại vùng Dương Xá – Siêu Lọai. Các họat động lễ hội truyền thống tại đền – chùa Bà Tấm hiện vẫn được địa phương tổ chức và bảo tồn.
Giá trị di sản
Đền Bà Tấm không chỉ là nơi thờ một nhân vật lịch sử nổi tiếng của triều Lý. Giá trị của di tích được tạo nên bởi sự hội tụ của nhiều lớp di sản: ký ức về Nguyên phi Ỷ Lan, kiến trúc và khảo cổ học thời Lý, nghệ thuật điêu khắc đá, hệ thống bia ký, cổ vật, bảo vật quốc gia và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng.
Qua gần chín thế kỷ, kiến trúc trên mặt đất đã nhiều lần thay đổi, nhưng những dấu tích còn lại trong lòng đất cùng hệ thống hiện vật vẫn cho thấy đây từng là một công trình tôn giáo có quy mô và nghệ thuật kiến trúc đáng chú ý của thời Lý. Chính sự kết hợp giữa nhân vật lịch sử – di tích kiến trúc – khảo cổ học – di vật nghệ thuật – tín ngưỡng cộng đồng tạo nên giá trị đặc biệt của Đền Bà Tấm trong hệ thống di sản văn hóa của Hà Nội.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (2008) "Cụm di tích Đền – Chùa Bà Tấm (Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội)"
02
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (2018) "Khảo cổ học với trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo qua trường hợp di tích đền – chùa Bà Tấm, Gia Lâm, Hà Nội."
03
Cục Di sản văn hóa "Tượng đôi sư tử đá đền – chùa Bà Tấm"
04
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2022) "Hà Nội: Công bố quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Đôi tượng sư tử đá thời Lý"
Cụm di tích Bà Tấm có lịch sử hình thành từ thời Lý. Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, quê hương của Ỷ Lan xưa thuộc hương Thổ Lỗi, sau đổi thành hương Siêu Loại. Năm 1115, bà cho xây dựng tại quê hương ngôi Linh Nhân Tư Phúc tự. Đây chính là ngôi chùa về sau thường được dân gian gọi là chùa Bà Tấm.
Đền Bà Tấm, còn gọi là đền Nguyên Phi Ỷ Lan, nằm trong cụm di tích đền – chùa Bà Tấm tại xã Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, di tích thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm. Xã Dương Xá sau đó được nhập vào xã Gia Lâm mới theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15. Đây là một trong những di tích tiêu biểu gắn với Nguyên phi Ỷ Lan, sau là Linh Nhân Hòang Thái hậu, nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử vương triều Lý. Đền cùng ngôi chùa cổ trong khuôn viên tạo thành một không gian vừa thờ Phật, vừa tưởng niệm và tôn vinh Ỷ Lan tại chính vùng quê gắn với cuộc đời bà. Cụm di tích đền – chùa Bà Tấm được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia năm 1996.
Lịch sử hình thành
Cụm di tích Bà Tấm có lịch sử hình thành từ thời Lý. Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, quê hương của Ỷ Lan xưa thuộc hương Thổ Lỗi, sau đổi thành hương Siêu Lọai. Năm 1115, bà cho xây dựng tại quê hương ngôi Linh Nhân Tư Phúc tự. Đây chính là ngôi chùa về sau thường được dân gian gọi là chùa Bà Tấm.
Đến năm 1117, sau khi Ỷ Lan qua đời, đền thờ bà được dựng trong khu vực này. Từ đó, đền – chùa Bà Tấm trở thành một quần thể tín ngưỡng đặc biệt: chùa là nơi thờ Phật, trong khi đền là nơi tưởng niệm và thờ Linh Nhân Hoàng Thái hậu.
Trong nhiều thế kỷ tiếp theo, di tích được tu bổ và mở rộng qua nhiều giai đoạn. Hệ thống văn bia còn lại cho biết trong các thế kỷ XVI, XVII và XVIII, nhiều vương phi, quận chúa họ Trịnh cùng nhân dân địa phương đã đóng góp tiền của để sửa chữa, tu bổ chùa. Những lớp kiến trúc và di vật còn lại ngày nay vì vậy phản ánh một quá trình tồn tại kéo dài từ thời Lý qua Lê Trung Hưng, Nguyễn đến thời hiện đại.
Nguyên phi Ỷ Lan và dấu ấn trong lịch sử
Ỷ Lan là phi tần của vua Lý Thánh Tông và là mẹ của vua Lý Nhân Tông. Bà từng hai lần tham gia nhiếp chính, để lại dấu ấn đáng kể trong hoạt động trị quốc của vương triều Lý. Các nguồn của ngành văn hóa và địa phương đều ghi nhận vai trò của bà trong việc ổn định đời sống xã hội, chăm lo sản xuất và phát triển Phật giáo.
Trong đời sống dân gian vùng Kinh Bắc, hình tượng Ỷ Lan dần được bao phủ bởi nhiều lớp truyền thuyết. Người dân gọi bà là Bà Tấm, gắn hình ảnh của bà với sự nhân hậu, đức độ và những việc làm tốt đẹp. Chính tên gọi dân gian này về sau trở thành tên quen thuộc của cả đền và chùa.
Không gian kiến trúc
Cụm đền – chùa Bà Tấm vốn được xây dựng trên một gò đất cao, rộng, nằm bên hữu ngạn dòng Thiên Đức. Trải qua nhiều thế kỷ, bố cục mặt bằng và các công trình kiến trúc đã có nhiều biến đổi. Kiến trúc hiện tồn bao gồm khu đền, chùa, nhà thờ Mẫu cùng một số đơn nguyên phụ trợ.
Các công trình kiến trúc nhìn thấy hiện nay phần lớn mang dấu vết của những lần tu bổ về sau. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết tòa đền hiện tại được xây dựng khoảng nửa đầu thế kỷ XX, còn kiến trúc chùa đã có đợt xây dựng lớn khoảng những năm 1980. Vì vậy, giá trị đặc biệt của di tích không chỉ nằm ở kiến trúc hiện tồn mà còn ở hệ thống di vật và dấu tích khảo cổ nằm dưới lòng đất. Những nghiên cứu khảo cổ học đã giúp nhận diện rõ hơn quy mô và diện mạo của kiến trúc thời Lý tại đây. Các cuộc khai quật vào năm 2005 và 2013 phát hiện dấu tích móng, nền, hệ thống thoát nước, chân tảng và thành bậc kiến trúc. Đáng chú ý là những thành bậc trang trí chim phượng, tượng sấu và văn sóng nước, cùng nhiều vật liệu xây dựng và trang trí kiến trúc mang phong cách nghệ thuật thời Lý.
Ảnh: Doãn Trung Hiếu
Tại tầng văn hóa thời Lý, khảo cổ học còn phát hiện gạch lát nền trang trí hoa mẫu đơn, hoa sen, hoa cúc; ngói mũi hài, đầu ngói trang trí hoa sen; lá đề trang trí rồng; tượng uyên ương, mảnh tượng Kim Cương và nhiều hiện vật bằng đá sa thạch, đất nung. Đặc biệt, một viên gạch mang dòng chữ ghi niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh năm thứ 7 (1066) đã cung cấp thêm tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu kiến trúc và vật liệu xây dựng thời Lý tại khu vực này.
Hệ thống di vật và cổ vật
Bên cạnh các dấu tích khảo cổ, cụm di tích còn lưu giữ một hệ thống di vật có niên đại trải dài qua nhiều thời kỳ. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận tại đây có tượng sư tử đá, thành bậc đá trang trí sấu, chim phượng và hoa cúc dây; vật liệu kiến trúc thời Lý; bia đá thời Lê và Nguyễn; cùng các chân tảng đá sa thạch thời Lý – Trần.
Một số bia đá có niên đại xác định như bia năm Hoằng Định 17 (1617), Đức Long 7 (1635), Dương Hòa 7 (1641) và Bảo Đại 18 (1943). Hệ thống bia ký là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử tu bổ, công đức và sự tồn tại của di tích qua các thời kỳ.
Hai Bảo vật quốc gia
Cụm di tích đền – chùa Bà Tấm hiện lưu giữ hai nhóm hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 15/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
Đôi tượng sư tử đá thời Lý
Đôi tượng sư tử đá có niên đại thế kỷ XII, hiện được đặt tại tòa Tam bảo của chùa. Mỗi tượng cao khoảng 104 cm, chiều rộng từ 130 đến 136 cm. Đây thực chất là những bệ đặt tượng Phật được tạo hình thành sư tử. Nghệ thuật tạo hình tập trung mạnh vào phần đầu với thần thái uy nghi, kết hợp giữa điêu khắc tượng tròn và phù điêu. Cách thể hiện này cho thấy những đặc trưng nổi bật của nghệ thuật điêu khắc thời Lý và có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam.
Tượng sư tử đá có niên đại thế kỷ XII, hiện được đặt tại tòa Tam bảo của chùa. Ảnh: Doãn Trung Hiếu
Khám thờ gỗ sơn son thếp vàng thời Mạc
Khám thờ có niên đại thế kỷ XVI, được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng. Hiện vật cao khoảng 170 cm, được cấu tạo như một công trình kiến trúc thu nhỏ với ba phần chính gồm mái, thân và chân đế.
Phần mái được tạo theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, với hệ thống trang trí hoa chanh, hoa thị và nhiều chi tiết chạm khắc đặc trưng. Khám thờ là hiện vật quan trọng phản ánh kỹ thuật chế tác gỗ, nghệ thuật trang trí và kiến trúc tôn giáo thời Mạc. Việc hai hiện vật thuộc hai giai đoạn Lý và Mạc cùng được lưu giữ tại một di tích cho thấy chiều sâu lịch sử và sự tiếp nối của các lớp văn hóa tại đền – chùa Bà Tấm.
Khám thờ có niên đại thế kỷ XVI, được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng. Ảnh: Doãn Trung Hiếu
Giá trị lịch sử và khảo cổ học
Giá trị nổi bật của Đền Bà Tấm trước hết nằm ở mối liên hệ trực tiếp với Linh Nhân Hòang Thái hậu Ỷ Lan và lịch sử vương triều Lý. Di tích vừa là nơi tưởng niệm một nhân vật lịch sử quan trọng, vừa lưu giữ dấu tích của một trung tâm Phật giáo được hình thành từ đầu thế kỷ XII.
Kết quả khảo cổ học còn cho phép nhận diện nhiều lớp kiến trúc kế tiếp nhau. Bên dưới kiến trúc hiện tại là dấu tích thời Lý; phía trên là các lớp kiến trúc Lê Trung Hưng, cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX và các giai đoạn tu bổ sau đó. Đây là nguồn tư liệu có giá trị để nghiên cứu quá trình biến đổi kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng ở vùng châu thổ Bắc Bộ. Hệ thống tượng đá, thành bậc, vật liệu kiến trúc, bia ký và hai Bảo vật quốc gia giúp Đền – Chùa Bà Tấm trở thành một địa điểm có giá trị đặc biệt đối với nghiên cứu mỹ thuật thời Lý, kiến trúc Phật giáo, điêu khắc đá và lịch sử văn hóa Thăng Long – Kinh Bắc.
Đời sống tín ngưỡng và lễ hội
Cùng với giá trị vật thể, di tích vẫn là một không gian sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng địa phương. Tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận các kỳ lễ lớn truyền thống vào ngày 19 tháng Hai và ngày 25 tháng Bảy âm lịch hằng năm. Trong đó, ngày 25 tháng Bảy âm lịch gắn với ngày mất của Linh Nhân Hòang Thái hậu. Lễ hội là dịp nhân dân tưởng niệm công lao của Ỷ Lan, đồng thời duy trì các thực hành tín ngưỡng và sinh họat văn hóa cộng đồng đã tồn tại lâu đời tại vùng Dương Xá – Siêu Lọai. Các họat động lễ hội truyền thống tại đền – chùa Bà Tấm hiện vẫn được địa phương tổ chức và bảo tồn.
Giá trị di sản
Đền Bà Tấm không chỉ là nơi thờ một nhân vật lịch sử nổi tiếng của triều Lý. Giá trị của di tích được tạo nên bởi sự hội tụ của nhiều lớp di sản: ký ức về Nguyên phi Ỷ Lan, kiến trúc và khảo cổ học thời Lý, nghệ thuật điêu khắc đá, hệ thống bia ký, cổ vật, bảo vật quốc gia và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng.
Qua gần chín thế kỷ, kiến trúc trên mặt đất đã nhiều lần thay đổi, nhưng những dấu tích còn lại trong lòng đất cùng hệ thống hiện vật vẫn cho thấy đây từng là một công trình tôn giáo có quy mô và nghệ thuật kiến trúc đáng chú ý của thời Lý. Chính sự kết hợp giữa nhân vật lịch sử – di tích kiến trúc – khảo cổ học – di vật nghệ thuật – tín ngưỡng cộng đồng tạo nên giá trị đặc biệt của Đền Bà Tấm trong hệ thống di sản văn hóa của Hà Nội.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (2008) "Cụm di tích Đền – Chùa Bà Tấm (Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội)"
02
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (2018) "Khảo cổ học với trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo qua trường hợp di tích đền – chùa Bà Tấm, Gia Lâm, Hà Nội."
03
Cục Di sản văn hóa "Tượng đôi sư tử đá đền – chùa Bà Tấm"
04
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2022) "Hà Nội: Công bố quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Đôi tượng sư tử đá thời Lý"