Ở làng Đông Hồ, có những sắc màu tưởng như rất giản dị: màu son đỏ, màu vàng hoa hòe, màu đen từ than lá tre, ánh trắng lấp lánh của điệp trên giấy dó. Thế nhưng phía sau mỗi màu sắc ấy là cả một kỹ nghệ, một hệ thống tri thức và một ký ức văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế giới thiệu hàng trăm tài liệu tranh dân gian Đông Hồ đã sưu tầm được (Ảnh: TTXVN)
Trong hành trình của nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế là một trong những gương mặt tiêu biểu đã dành phần lớn cuộc đời để níu giữ những giá trị ấy. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm tranh lâu đời ở Đông Khê, ông thuộc đời thứ 20 của dòng họ Nguyễn Đăng – một dòng họ có lịch sử nhiều thế hệ gắn bó với nghề. Từ một người từng chứng kiến nghề tranh quê hương đứng trước nguy cơ biến mất, Nguyễn Đăng Chế đã trở thành người sưu tầm, phục dựng bản khắc, khôi phục kỹ thuật, sáng tác mẫu mới, truyền nghề cho con cháu và xây dựng không gian để giới thiệu tranh Đông Hồ đến công chúng.
Lớn lên cùng nghề tranh của gia đình
Nguyễn Đăng Chế sinh ra và lớn lên tại Đông Khê, vùng đất gắn với làng tranh Đông Hồ. Theo lời kể của ông, nghề làm tranh là nghề gia truyền của dòng họ Nguyễn Đăng từ hơn 500 năm trước. Ông là thế hệ thứ 20 trong gia đình tiếp nối nghề, sau ông là con cái và các thế hệ cháu tiếp tục thực hành.
Ông bắt đầu tiếp xúc với nghề từ khi còn nhỏ. Có nguồn ghi nhận ông làm quen với tranh từ khoảng 7 tuổi; trong một cuộc trò chuyện khác, ông cho biết từ năm 11 tuổi đã được cha mẹ hướng dẫn trực tiếp các công đoạn của nghề. Dù cách xác định mốc tuổi có khác nhau giữa các tư liệu, điểm thống nhất là ông đã tiếp xúc với nghề tranh từ rất sớm và có hơn bảy thập niên gắn bó với nghệ thuật này.
Những năm tháng tuổi thơ ấy đã giúp Nguyễn Đăng Chế tiếp cận nghề tranh không chỉ như một kỹ thuật thủ công mà như một phần của đời sống làng quê. Ông học cách vẽ mẫu, làm màu, chuẩn bị giấy, khắc ván và in tranh; đồng thời chứng kiến cách nghề được thực hành trong chính gia đình và cộng đồng Đông Hồ.
Đó là một quá trình học nghề rất khác với việc học một kỹ năng đơn lẻ. Để làm được một bức tranh Đông Hồ, người nghệ nhân phải hiểu đồng thời nhiều công đoạn, từ nguyên liệu, màu sắc, bản khắc cho tới trình tự in. Mỗi bản khắc thường đảm nhiệm một màu, các lớp màu được in thủ công nối tiếp nhau, cuối cùng mới in nét đen để hoàn thiện hình ảnh. Giấy in truyền thống là giấy dó được phủ điệp; nhiều màu được chế biến từ nguyên liệu tự nhiên như sỏi son, hoa hòe, lá chàm và than từ lá tre.
Từ người làm nghề đến người chứng kiến nghề mai một
Nghề tranh Đông Hồ từng có thời kỳ phát triển mạnh, với nhiều dòng họ cùng làm tranh và tranh được bán phổ biến trong các dịp Tết. Các nguồn tư liệu cho biết trước năm 1945, làng có tới 17 dòng họ làm nghề. Tuy nhiên, sau những biến động của xã hội, nhu cầu mua tranh Tết giảm mạnh, nhiều gia đình phải chuyển sang những nghề khác, đặc biệt là sản xuất hàng mã. Những bản khắc cũ dần bị bỏ quên, hư hỏng hoặc thậm chí được tận dụng vào những công việc sinh hoạt khác.
Nguyễn Đăng Chế trải qua chính giai đoạn suy thoái ấy.
Ông từng có thời gian rời quê để công tác, giảng dạy tại Trường Mỹ nghệ Đông Dương, nay là Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, sau đó công tác tại Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc. Trong quá trình làm việc, ông vẫn giữ sự quan tâm đặc biệt với tranh dân gian quê mình. Đến năm 1992, sau khi nghỉ hưu, ông trở về Đông Hồ và dồn sức cho việc sưu tầm, phục hồi nghề tranh.
Đây trở thành bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời nghề nghiệp của ông.
Thay vì chỉ tiếp tục làm những bức tranh còn phổ biến, Nguyễn Đăng Chế bắt đầu đi tới từng gia đình, tìm kiếm, mua lại những bản khắc cũ còn sót lại, sửa chữa và phục chế chúng. Hàng trăm bản khắc cổ được ông sưu tầm, trong đó có những bản có niên đại trên 200 năm. Ông coi mỗi bản khắc như một mảnh ký ức của làng nghề và cố gắng giữ chúng lại trước khi bị thất lạc.
Phục hồi tranh Đông Hồ từ những bản khắc cũ
Trong công việc của Nguyễn Đăng Chế, những bản khắc có ý nghĩa đặc biệt. Bởi với tranh Đông Hồ, bản khắc không chỉ là công cụ sản xuất mà còn là tư liệu trực tiếp về mỹ thuật, kỹ thuật và nội dung của những thế hệ nghệ nhân trước.
Ông từng chia sẻ về một bộ tranh được một nhà nghiên cứu người Pháp tặng cho gia đình vào năm 2013. Từ những tư liệu đó, ông cùng con cháu nghiên cứu, phóng to hình ảnh và làm lại bản khắc để có thể tiếp tục in tranh. Những công việc như vậy đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức, nhưng giúp gia đình ông từng bước mở rộng kho bản khắc phục vụ cho việc phục hồi nghề.
Những bản khắc tranh dân gian Đông Hồ là tư liệu quý để in tranh (Ảnh: TTXVN)
Theo những tư liệu được công bố trong hồ sơ đề nghị xét tặng Nghệ nhân Nhân dân, gia đình ông hiện lưu giữ một bộ bản khắc tranh thờ cổ, còn gọi là tranh Chủ, có niên đại khoảng trên 200 năm. Những bản khắc này hiện được giới thiệu tại không gian bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ của gia đình.
Từ công việc sưu tầm đó, ông không chỉ phục hồi được những mẫu tranh cũ mà còn góp phần khôi phục lại những kỹ thuật mà nghề tranh truyền thống từng sử dụng.
Không chỉ giữ tranh cũ mà còn sáng tạo tranh mới
Một nét đáng chú ý trong quan niệm của Nguyễn Đăng Chế là bảo tồn không đồng nghĩa với việc chỉ lặp lại những gì đã có.
Trong thời kỳ chiến tranh, ông từng sáng tác những mẫu tranh mang đề tài mới, phản ánh đời sống xã hội đương thời như “Bác Hồ với thiếu nhi”, “Phụ nữ ba đảm đang”, “Không cho chúng nó thoát”, hay những đề tài về sản xuất, hợp tác xã và đời sống nông thôn. Tác phẩm “Bác Hồ với thiếu nhi” được ghi nhận đạt Giải Nhất tại một cuộc thi mỹ thuật năm 1970; “Phụ nữ ba đảm đang” và “Không cho chúng nó thoát” cũng đạt giải trong các cuộc thi văn nghệ dân gian năm 1972.
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế giới thiệu tranh dân gian Đông Hồ gia đình ông sáng tác (Ảnh: TTXVN)
Những sáng tác này cho thấy tranh Đông Hồ vốn không phải một loại hình nghệ thuật bất biến. Trong lịch sử, các nghệ nhân từng đưa vào tranh những đề tài về xã hội, thời cuộc và những thay đổi trong đời sống. Nguyễn Đăng Chế tiếp tục truyền thống ấy khi tìm cách đưa những nội dung mới vào ngôn ngữ tạo hình của tranh Đông Hồ.
Theo các tư liệu gần đây, ông cũng nghiên cứu và sáng tác thêm những mẫu tranh về Quan họ, lễ hội và đời sống đương đại. Năm 2020, từ mẫu bộ tranh “Tố nữ” gồm ba bức do Giáo sư người Pháp Jean-Pierre Pascal trao tặng, ông nghiên cứu và sáng tác thêm một bức để hòan chỉnh bộ bốn bức theo phong cách tranh dân gian Đông Hồ. Cũng trong năm này, ông sáng tác bức “Tố nữ kéo đàn nhị”, dựa trên bộ tranh Tố nữ của nghệ nhân Nguyễn Bá Tập để lại.
Cách làm này cho thấy ông nhìn nghề tranh như một thực hành có khả năng thích nghi. Giữ hồn cốt truyền thống nhưng đồng thời tìm cách để tranh tiếp tục nói về con người và xã hội của thời đại mình.
Dựng một không gian để nghề tranh có thể tiếp tục sống
Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Nguyễn Đăng Chế là đưa hoạt động bảo tồn từ quy mô gia đình trở thành một không gian mở để công chúng có thể trực tiếp tìm hiểu nghề.
Năm 2006, gia đình ông thành lập Doanh nghiệp Tư nhân Tranh dân gian Đông Hồ Nguyễn Đăng Chế. Từ đây, gia đình từng bước xây dựng khu sản xuất, nơi trưng bày tranh, khu nghiên cứu và sưu tầm, đồng thời tái hiện không gian chợ tranh truyền thống. Cơ sở này cũng trở thành địa điểm để khách tham quan và học sinh tìm hiểu, trải nghiệm các công đoạn làm tranh.
Ngày 16/4/2024, Nhà trưng bày tranh dân gian Đông Hồ của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế được khánh thành. Đây được giới thiệu là nhà trưng bày tranh Đông Hồ tư nhân đầu tiên trên địa bàn Bắc Ninh tại thời điểm đó. Không gian được tổ chức thành bảy chủ đề, từ quê hương và gia đình, cuộc đời nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, màu và quy trình sản xuất màu, vẽ mẫu, khắc ván, in tranh cho tới câu chuyện về sức sống của tranh Đông Hồ. Nội dung được giới thiệu bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh.
Điều đáng chú ý là nơi đây không chỉ để “xem tranh”. Người đến còn có thể tìm hiểu cả quy trình tạo ra một bức tranh – từ làm giấy, giã điệp, chế màu, khắc ván cho tới in từng lớp màu. Nhờ vậy, những kỹ thuật vốn thường chỉ được truyền trong phạm vi gia đình và làng nghề có cơ hội được giới thiệu rộng rãi hơn.
Truyền nghề để tranh Đông Hồ không trở thành một ký ức
Với Nguyễn Đăng Chế, một nghề thủ công chỉ thực sự sống khi vẫn có người tiếp tục làm nghề.
Bởi vậy, bên cạnh việc trực tiếp thực hành, ông dành nhiều tâm huyết cho việc truyền nghề trong gia đình. Hiện nay, các thế hệ con cháu vẫn cùng tham gia những công đoạn khác nhau. Người thì khắc ván, người làm giấy, người phết màu, người in tranh, tạo thành một chuỗi lao động gia đình tương đối đầy đủ. Các tư liệu gần đây ghi nhận gia đình ông đã có ba thế hệ cùng tiếp tục nghề làm tranh Đông Hồ.
Cách truyền nghề ấy khá đặc biệt bởi người học không chỉ học một thao tác kỹ thuật. Để làm tranh Đông Hồ đúng cách, họ phải hiểu đặc tính của từng loại gỗ, cách khắc bản, cách pha màu, cách xử lý giấy và trình tự in. Quan trọng hơn, họ phải hiểu vì sao một hình tượng được lựa chọn, tại sao một màu sắc được đặt ở một vị trí nhất định và câu chuyện dân gian nào đứng sau một bức tranh.
Đây cũng là điểm làm nên giá trị của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế: ông không chỉ giữ một bộ sưu tập tranh mà cố gắng giữ lại cả hệ thống tri thức làm nên tranh.
Đưa tranh Đông Hồ đến gần hơn với công chúng
Trong nhiều năm, gia đình Nguyễn Đăng Chế đã tìm nhiều cách để đưa tranh Đông Hồ ra khỏi phạm vi làng nghề. Trung tâm giao lưu văn hóa và cơ sở sản xuất của gia đình trở thành điểm đến của khách du lịch trong và ngoài nước, đồng thời là nơi tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh.
Tranh cũng được đưa đến các địa điểm trưng bày và giới thiệu ở trong nước, đồng thời từng được quảng bá tới khách quốc tế. Gia đình ông đã phát triển các hình thức ứng dụng từ tranh truyền thống như lịch Tết, tem thư, sách tập tô, bưu thiếp và các sản phẩm văn hóa khác, qua đó tìm thêm những phương thức để tranh Đông Hồ có thể hiện diện trong đời sống hiện đại.
Đằng sau những hoạt động ấy là một quan niệm khá thực tế: muốn bảo tồn nghề lâu dài thì tranh phải có người xem, có người hiểu, có người mua, có người học và quan trọng nhất là phải có người tiếp tục làm.
Giữ “hồn” tranh qua màu sắc, chất liệu và kỹ thuật
Nhắc đến tranh Đông Hồ, nhiều người thường nhớ ngay đến những bức “Đám cưới chuột”, “Lợn đàn”, “Hứng dừa”, “Đánh ghen” với đường nét khỏe khoắn và màu sắc tươi sáng. Nhưng đối với Nguyễn Đăng Chế, cái đặc biệt của tranh không chỉ nằm ở hình ảnh quen thuộc.
Giấy dó phủ điệp tạo nên bề mặt ánh sáng đặc trưng. Màu tranh truyền thống được lấy từ nguyên liệu tự nhiên. Các bản khắc gỗ được làm thủ công, mỗi bản đảm nhiệm một màu. Người làm tranh phải in theo đúng thứ tự để các lớp màu kết hợp hài hòa và tạo nên hình ảnh cuối cùng.
Vì vậy, khi một kỹ thuật bị thất truyền, điều mất đi không chỉ là khả năng sản xuất một bức tranh mà còn là cả một hệ thống tri thức về chất liệu và thao tác thủ công.
Nguyễn Đăng Chế đã dành nhiều năm để phục dựng chính những tri thức ấy. Công việc của ông vì vậy có thể nhìn như một quá trình “đánh thức” những thứ tưởng như đã ngủ quên: bản khắc cũ được tìm lại, màu truyền thống được tiếp tục sử dụng, kỹ thuật in được thực hành, mẫu tranh được phục hồi và người trẻ trong gia đình tiếp tục học nghề.
Người nghệ nhân trong hành trình bảo tồn di sản
Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012 và trong những năm gần đây, Việt Nam tiếp tục triển khai các bước bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Đến năm 2026, tỉnh Bắc Ninh đã chuẩn bị các hoạt động liên quan đến việc đón nhận quyết định UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
Trong bối cảnh đó, những nghệ nhân như Nguyễn Đăng Chế có vai trò đặc biệt. UNESCO có thể ghi danh một di sản, các cơ quan quản lý có thể lập hồ sơ, xây dựng kế hoạch bảo tồn, nhưng sức sống thực tế của nghề vẫn phụ thuộc vào những người đang trực tiếp làm tranh và truyền lại tri thức.
Đó cũng chính là giá trị lớn nhất trong hành trình của Nguyễn Đăng Chế. Ông không chỉ giữ một vài mẫu tranh nổi tiếng, mà cố gắng bảo tồn từ bản khắc, chất liệu, màu sắc, quy trình sản xuất cho tới môi trường thực hành và đội ngũ kế cận.
Những danh hiệu và sự ghi nhận
Nguyễn Đăng Chế được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú trong lĩnh vực tranh dân gian Đông Hồ. Năm 2019, tên ông xuất hiện trong danh sách được đề nghị xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, với nghề nắm giữ là tranh dân gian Đông Hồ.
Đáng chú ý, hồ sơ do tỉnh Bắc Ninh công khai gần đây cũng có tên Nguyễn Đăng Chế trong danh sách cá nhân được đề nghị xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân. Hồ sơ ghi nhận nhiều thành tích và đóng góp của ông, trong đó có các tác phẩm đạt giải, bộ bản khắc tranh thờ cổ trên 200 năm đang lưu giữ và những sáng tác mới nhằm hoàn thiện, phục hồi các bộ tranh dân gian.
Vì vậy, khi xây dựng hồ sơ trên Tracuudi.vn ở thời điểm hiện nay, nên ghi chính xác danh hiệu đã được xác nhận là Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế, đồng thời có thể ghi chú riêng việc ông được đề nghị xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân nếu cần cập nhật quá trình xét tặng. Không nên gọi ông là “Nghệ nhân Nhân dân” khi chưa có nguồn chính thức xác nhận việc phong tặng.
Một đời đi tìm lại những sắc màu của làng tranh
Điều làm nên dấu ấn của Nguyễn Đăng Chế không chỉ là thời gian ông gắn bó với nghề, mà là việc ông đã chứng kiến gần như toàn bộ một vòng đời của tranh Đông Hồ trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI: từ thời kỳ còn là một sản phẩm quen thuộc của mỗi dịp Tết, đến khi nghề suy giảm nghiêm trọng, rồi từng bước được phục hồi và tìm kiếm một vị trí mới trong đời sống hiện đại.
Ông từng nhìn thấy những gia đình rời nghề, những bản khắc cũ bị bỏ quên và một làng tranh từng đông đúc trở nên vắng người làm tranh. Chính ký ức ấy khiến ông quyết định trở về và bắt đầu lại từ những điều rất nhỏ: một bản khắc cũ, một mẫu tranh thất truyền, một kỹ thuật in cần phục hồi.
Hơn ba thập niên sau khi nghỉ hưu để trở về quê, những nỗ lực ấy đã tạo nên một không gian bảo tồn, sản xuất và giới thiệu tranh Đông Hồ được hình thành ngay tại làng nghề. Đặc biệt, công việc ấy đã được tiếp nối bởi các thành viên trong gia đình, biến việc bảo tồn từ nỗ lực của một cá nhân thành một quá trình trao truyền giữa nhiều thế hệ.
Có lẽ vì thế, gọi Nguyễn Đăng Chế là một nghệ nhân giữ nghề vẫn chưa nói hết câu chuyện về ông. Ông còn là người sưu tầm ký ức của làng tranh, người phục dựng những kỹ thuật tưởng như đã mất và người tìm cách để tranh Đông Hồ tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay.
Trên những tờ giấy dó phủ điệp, màu sắc của tranh Đông Hồ vẫn tươi sáng như trước. Nhưng để những màu sắc ấy còn có thể xuất hiện, phía sau mỗi bản in là công sức của những người đã kiên trì gìn giữ nghề qua những giai đoạn khó khăn nhất. Trong hành trình ấy, Nguyễn Đăng Chế là một trong những người đã góp phần quan trọng để tranh Đông Hồ không chỉ còn là ký ức của một làng nghề xưa, mà tiếp tục là một di sản đang được thực hành, trao truyền và kể lại bằng ngôn ngữ của thời đại mới.













