Căn cứ vào bình đồ kiến trúc và hệ thống mảng chạm khắc trên vì nóc, giới nghiên cứu xác định chùa Thái Lạc là một trong ba công trình kiến trúc gỗ cổ nhất Việt Nam được khởi dựng từ thời Trần (cùng với chùa Dâu và chùa Bối Khê). Ngày 24/12/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1820/QĐ-TTg, chính thức xếp hạng chùa Thái Lạc là Di tích Lịch sử Quốc gia đặc biệt.
Cấu trúc Không gian và Quy hoạch Tổng thể
Chùa quay mặt về hướng Đông Nam, được kiến tạo theo bình đồ "nội công ngoại quốc" truyền thống. Các hạng mục công trình dàn trải đăng đối theo trục Tây Bắc – Đông Nam, tạo thành một chỉnh thể kiến trúc hài hòa bao gồm: Tam quan, sân chùa, cụm
Tam bảo, nhà Tổ, hành lang, nhà Mẫu và khu vườn tháp.

Tam quan
Công trình mang kiến trúc chồng diêm hai tầng tám mái. Cổng chính vút cao nổi bật, đường bờ nóc trang trí hình tháp chín tầng. Mái lợp ngói ống, bờ nóc tạo dáng cong mui thuyền cùng các đầu đao vút tạc hình hồi long vân cuốn. Hệ cột trụ vuông vức được đắp nổi câu đối chữ Hán, ngợi ca cảnh sắc và uy linh của Tứ Pháp.
Hệ thống Tam Bảo (Chữ Công - 工)
Tam bảo là trái tim của di tích, bao gồm ba khối kiến trúc liên kết chặt chẽ:
Tiền đường: Hạng mục có quy mô đồ sộ nhất với 9 gian, kiến trúc tường hồi bít đốc lợp ngói Di. Hệ khung gỗ lim 4 hàng chân cột mang kết cấu vì nóc "chồng rường giá chiêng" và vì nách "ván mê" hoặc "bán chồng rường". Nghệ thuật chạm khắc tại đây mang phong cách thời Nguyễn (thế kỷ XIX) với các đề tài tứ linh, tùng lộc, hoa lá. Không gian bên trong bài trí tượng Đức Ông, Thánh hiền, Hộ pháp cùng hệ thống hoành phi, đồ tự khí giá trị.
Thiêu hương (Ống muống): Tòa nối dài 2,6m x rộng 4,2m gồm 2 gian, làm bước đệm kết nối Tiền đường và Thượng điện. Hệ vì kèo đơn giản, trơn tru. Bộ vì giáp Thượng điện mang kiểu "cốn mê" chạm lộng rồng và long mã đặc trưng thời Nguyễn.
Thượng điện: Điểm nhấn lõi của kiến trúc với 1 gian 2 chái, nền nâng cao vế thế. Kết cấu 4 hàng cột với cột cái sở hữu đường kính 0,45m. Nơi đây sở hữu bộ vì nóc kiểu "giá chiêng" hiếm hoi trong lồng lá đề, một cấu trúc hiện tại chỉ còn tìm thấy tại chùa Dâu và chùa Bối Khê.
Giá trị Điêu khắc Mỹ thuật Thời Trần (Thượng Điện)
Thượng điện chùa Thái Lạc được vinh danh là kho tàng "vô tiền khoáng hậu" của nghệ thuật điêu khắc gỗ cổ truyền Đại Việt. Di tích hiện bảo lưu 20 bức phù điêu gỗ nguyên bản mang phong cách mỹ thuật Trần, phân bổ chủ yếu trên các mảng cốn và ván lá đề. Các đề tài trang trí được thể hiện bằng kỹ thuật đục nẩy tinh xảo, nét chạm uốn lượn như nét vẽ hội họa:

Hình tượng Nhân thần & Nhạc công: Nổi bật với bức phù điêu dàn nhạc ba người tấu đàn tranh, tỳ bà, đàn tam trong trang phục trần tục nhưng thanh tao. Đặc biệt, chùa Thái Lạc lưu giữ bức chạm nhạc công cưỡi chim phượng tấu nhạc – tiêu bản duy nhất được ghi nhận tại Việt Nam.
Tiên nữ dâng hoa (Kinnara): Các bức cốn chạm hình tượng tiên nữ đầu người mình chim (nửa trên nữ giới, nửa dưới chim đuôi dài, cánh mở) với đôi tay thành kính dâng bình hoa cúng dường Phật pháp.
Hình Phỗng: Những chú bé bầu bĩnh cởi trần, đóng khố, đeo dây anh lạc, quỳ gối đội tòa sen được chạm sắc nét trên các cột trụ trốn, minh chứng cho nghệ thuật tả thực xuất sắc.
Linh vật & Họa tiết: Rồng xuất hiện dưới dạng chạm thời Lý và rồng chầu lá đề thời Trần, trong đó có sự xuất hiện đầu tiên của mô-típ "mây ám thân rồng" trong nghệ thuật Việt. Các họa tiết phụ trợ gồm chim phượng mỏ vẹt, hoa sen, lá đề và vân mây uốn lượn.
Các Hạng mục Kiến trúc Bổ trợ
Nhà Tổ (Hậu đường): Công trình 7 gian với kết cấu vì nóc "chồng rường đấu kê". Theo bia đá Chính Hòa 24, đây vốn là vị trí của Gác chuông dựng năm 1703. Hiện là nơi tôn thờ Bồ Đề Đạt Ma và các vị sư Tổ.
Hai dãy Hành lang: Chạy song song hai sườn Thượng điện và Thiêu hương, mỗi dãy 7 gian, kết nối mạch lạc với nhà Tổ.
Nhà Mẫu & Vườn Tháp: Nhà Mẫu gồm 3 gian kiến trúc bít đốc. Phía ngoài là vườn tháp với 5 ngôi tháp gạch, nổi bật là ngôi tháp cổ 3 tầng mang niên đại thời Nguyễn.
Chùa Thái Lạc không chỉ là một công trình tín ngưỡng mà còn là một bảo tàng kiến trúc - điêu khắc nguyên bản. Dấu ấn mỹ thuật thời Trần tại đây phản ánh sâu sắc đời sống xã hội Đại Việt, đồng thời là minh chứng sinh động cho quá trình giao thoa, tiếp biến giữa văn hóa bản địa và các luồng văn hóa Nam Á, phương Bắc trong lịch sử.













