
Chùa Ông tọa lạc tại thôn Bình Lương, xã Như Qùynh, tỉnh Hưng Yên. Trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, di tích thuộc xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Chùa được nhân dân địa phương gọi là chùa Ông hoặc chùa Ông Bình Lương. Tên chữ được ghi trong các thác bản văn bia là Bản Tịch tự. Một số nguồn báo chí và thông tin giới thiệu gần đây sử dụng tên Bản Tịnh tự. Bản biên tập này sử dụng tên Bản Tịch tự theo nhan đề văn bia Bản Tịch tự bi minh và các tư liệu Hán Nôm đã được công bố.
Lịch sử hình thành
Theo thác bản văn bia Bản Tịch tự bi minh, mang ký hiệu 5527–5528, chùa được khởi dựng dưới thời vua Lý Thần Tông, trị vì từ năm 1128 đến năm 1138. Nội dung văn bia ghi việc phụng thờ Đại thánh Từ Đạo Hạnh tôn giả và giải thích tên gọi Bản Tịch tự. Văn bia được lập vào niên hiệu Chính Hòa thứ 20, tương ứng năm 1699, dưới triều vua Lê Hy Tông.
Một thác bản khác có tên Bản Tịch tự phúc điền bi, ký hiệu 5529–5530, được lập vào niên hiệu Thịnh Đức thứ 5, năm 1657. Nội dung văn bia cho biết chùa nằm tại thôn Lương Xá, xã Đình Loan, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc; đây là nơi thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh và được ghi nhận là công trình do vua Lý Thần Tông cho dựng.
Tên gọi chùa Ông được một số tài liệu giải thích từ cách nhân dân gọi Thiền sư Từ Đạo Hạnh là Ông Thánh Láng. Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Hương năm 2017 cho biết trong sinh hoạt tại địa phương, tên chùa Ông được sử dụng phổ biến hơn tên chữ của di tích.
Căn cứ niên đại trị vì của vua Lý Thần Tông được ghi trong văn bia, lịch sử hình thành của chùa tính đến nay vào khoảng gần chín thế kỷ. Thông tin này được ghi lại trong văn bia thời Lê, hiện chưa phải là tư liệu được lập đồng thời với thời điểm khởi dựng chùa.
Nhân vật thờ tự
Chùa Ông là cơ sở thờ Phật, đồng thời phụng thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông. Không gian thờ tự được bố trí theo hình thức tiền Phật, hậu Thánh: các tượng Phật được đặt tại khu Phật điện, còn tượng Thiền sư Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông được đặt tại khu điện thánh phía sau.
Tại gian chính của thượng điện có hệ thống tượng Tam thế, tượng A Di Đà, Quan Âm, Cửu Long – Thích Ca sơ sinh và các tượng thờ khác. Tượng Từ Đạo Hạnh được đặt trong khám thờ, thể hiện ở tư thế ngồi, đầu đội mũ, mặc áo. Hai bên có tượng Đức Ông và Thánh Tăng. Theo khảo sát được công bố năm 2017, nhiều pho tượng hiện còn tại chùa được tạo tác hoặc tu sửa vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX; một số pho có niên đại sớm hơn.


Kiến trúc
Chùa quay mặt về hướng Nam. Phía trước khuôn viên có ao nước; các công trình chính được bố trí dọc theo trục từ tam quan, sân chùa đến khu thờ Phật, điện thánh và gác chuông.
Tam quan có ba cửa vòm cuốn, được xây bằng gạch và vữa. Qua tam quan là sân chùa, tiếp đến là khu kiến trúc chính được bố trí theo kiểu chữ Tam, gồm tiền đường, trung đường và thượng điện. Phía sau khu thờ Phật là điện thánh, nơi đặt khám và tượng Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Công trình cuối trục là gác chuông hai tầng, tám mái. Hai dãy hành lang được bố trí hai bên khu chùa chính.
Nghiên cứu hiện trạng công bố năm 2017 cho biết tiền đường và trung đường có kết cấu vì theo dạng biến thể của chồng rường, sử dụng cột tròn và trang trí hạn chế. Thượng điện có nền cao hơn sân và khu tiền đường; một số cấu kiện tại đây được nghiên cứu xác định có hình thức kiến trúc xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII. Tam quan, gác chuông và một số hạng mục khác đã trải qua các lần xây dựng hoặc sửa chữa vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Nguồn tư liệu năm 2020 ghi nhận chùa từng được trùng tu vào năm 1938. Trong năm 2024, khu Đại hùng bảo điện tiếp tục được trùng tu, tôn tạo và hoàn thành vào đầu tháng 1/2025. Vì vậy, hiện trạng kiến trúc tại di tích có những thành phần thuộc nhiều giai đoạn xây dựng và tu bổ khác nhau.

Di vật
Các nguồn tư liệu công bố về chùa Ông ghi nhận hệ thống di vật gồm tượng thờ, bia đá, chuông đồng, đại tự, khám thờ, kiệu, cờ, quạt, bát bửu, chấp kích, ngựa thờ và một số viên gạch cổ.
Trong số các tư liệu Hán Nôm liên quan đến di tích có các thác bản Bản Tịch tự bi minh và Bản Tịch tự phúc điền bi. Một số nguồn cập nhật còn ghi nhận tại chùa có hai bia đá mang niên đại 1703 và 1749, chuông đồng, tượng thờ và các đồ thờ tự thuộc nhiều thời kỳ.
Lễ hội truyền thống chùa Ông
Lễ hội chùa Ông được tổ chức vào tháng Ba âm lịch. Theo khảo sát được công bố năm 2017, trước đây thời gian lễ hội có thể kéo dài từ ngày mồng 6 đến ngày 28 tháng Ba. Hiện nay, lễ hội được tổ chức tập trung từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 9 tháng Ba âm lịch.
Các nghi thức chính được ghi nhận gồm lễ rước nước, rước vua Lý Thần Tông, rước kiệu, tế thánh, dâng hương và phất cờ lệnh. Trong lễ rước nước, đoàn rước từ thôn Bình Lương đến khu vực Kiêu Kỵ, thuộc Gia Lâm, Hà Nội, lấy nước đưa về chùa để thực hiện các nghi thức tại cung thánh.
Nghi thức phất cờ được tổ chức tại khu vực bàn cờ của làng. Người thực hiện cầm cờ và phất theo các động tác quy định trước khi dân làng thực hiện các nghi lễ tiếp theo. Hoạt động tế lễ chính được tiến hành vào ngày mồng 9 tháng Ba âm lịch. Các giáp trong làng chuẩn bị lễ vật, trong đó có bánh dày được đưa về chùa để dâng lễ và tổ chức thi.
Ngoài cộng đồng thôn Bình Lương, nghiên cứu năm 2017 còn ghi nhận sự tham gia của một số làng có quan hệ thờ phụng Thiền sư Từ Đạo Hạnh như Ngọc Động, Như Lân, Lê Xá và Kiêu Kỵ. Các nghi lễ và thời gian tham gia của từng làng được thực hiện theo lệ đã hình thành tại địa phương.
Xếp hạng và ghi danh
Năm 2001, chùa Ông được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
Ngày 3/6/2025, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 1662/QĐ-BVHTTDL, đưa Lễ hội truyền thống chùa Ông, khi đó thuộc xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Ngày 25/4/2026, chính quyền và nhân dân xã Như Qùynh tổ chức lễ đón nhận chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội truyền thống chùa Ông.
---
Ảnh trong bài: Doãn Trung Hiếu













