Giai đoạn 2019 - 2022, từ quá tải trước dịch đến gần như vắng khách hoàn toàn trong dịch COVID-19, cho thấy rõ mức độ phụ thuộc của Đô thị cổ Hội An vào dòng khách trực tiếp và yêu cầu đổi mới cách tiếp cận trong bảo tồn, phát triển du lịch. Trên cơ sở quan sát của tác giả trong thời gian sống, làm việc tại Hội An, phân tích khung pháp lý hiện hành (Luật Di sản văn hóa năm 2024, Luật Du lịch năm 2017, Đề án Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030) và nghiên cứu trường hợp hai nền tảng Tracuudi.vn và Disannoi.vn, bài viết đề xuất một cách tiếp cận gồm ba thành phần: xây dựng “dữ liệu sống” về di sản với sự tham gia của cộng đồng; thuyết minh tự hành bằng âm thanh theo các Tour chủ đề, theo tinh thần khẩu hiệu “Chạm di sản bằng âm thanh” của Disannoi.vn; và cơ chế báo cáo trực tuyến giúp cơ quan quản lý theo dõi mức độ khai thác tư liệu, hành vi tham quan bất cứ lúc nào. Bài viết đề xuất lộ trình thí điểm 12 tháng tại Hội An cùng một số kiến nghị.
Từ khóa: Hội An; di sản sống; dữ liệu cộng đồng; thuyết minh tự hành; du lịch thông minh; chuyển đổi số.
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết
Đô thị cổ Hội An được UNESCO ghi danh là Di sản thế giới năm 1999 theo tiêu chí (ii) và (v), với giá trị của một thương cảng Đông Nam Á thế kỷ XV - XIX còn giữ được gần như nguyên vẹn (UNESCO World Heritage Centre, n.d.). Điều làm nên sức sống của Hội An là cư dân vẫn ở, vẫn buôn bán, vẫn thờ tự trong chính những ngôi nhà hàng trăm năm tuổi. Vì thế, phát triển du lịch ở đây không tách khỏi yêu cầu giữ tính xác thực của di sản và chất lượng sống của người dân.
Tác giả có thời gian sống và làm việc tại Hội An từ năm 2019 đến năm 2022, đủ để chứng kiến hai trạng thái đối lập của đô thị di sản này. Năm 2019, phố cổ rực đèn lồng nhưng thường xuyên quá tải; những con phố nhỏ và các ngôi nhà gỗ chịu sức ép lớn từ dòng khách. Năm 2020 - 2021, khi dịch COVID-19 bùng phát, khách gần như biến mất, hàng quán đóng cửa, đời sống phố thị lặng hẳn. Khoảng lặng ấy đặt ra một câu hỏi: khi du khách không thể đến, di sản Hội An còn kết nối với công chúng bằng cách nào?
Từ cuối năm 2022, du lịch phục hồi nhanh. Năm 2024, Hội An đón khoảng 4,4 triệu lượt khách (VnEconomy, 2025); hiện mỗi năm Đô thị cổ đón khoảng 5 triệu lượt (Báo Văn hóa, 2025). Từ ngày 01/7/2025, Hội An trở thành một phần của thành phố Đà Nẵng, khu vực bảo vệ di sản nằm trong phường Hội An (Quốc hội, 2025a); địa bàn Hội An cũ có 1.439 di tích, riêng vùng lõi có 01 di tích quốc gia đặc biệt và 11 di tích quốc gia (Báo Văn hóa, 2025). Đầu năm 2026, Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa thế giới Hội An đã đưa vào vận hành hệ thống bán vé tự động và thông tin, thuyết minh đa ngôn ngữ qua mã QR (Báo Văn hóa, 2026). Đây là bước đi đáng ghi nhận. Tuy vậy, những vấn đề cũ vẫn còn: dữ liệu di sản phân tán, phần lớn tư liệu số hóa chưa được đưa vào khai thác, khách tập trung ở một số tuyến phố trung tâm, và cơ quan quản lý chưa có công cụ theo dõi hành vi tham quan một cách liên tục.
1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
Bài viết hướng tới ba câu hỏi: (i) làm thế nào để dữ liệu di sản sau số hóa tiếp tục được bồi đắp và sử dụng, thay vì nằm yên trong kho lưu trữ; (ii) thuyết minh tự hành bằng âm thanh có thể góp phần nâng cao trải nghiệm và điều tiết dòng khách tại Hội An như thế nào; (iii) cơ quan quản lý cần những thông tin gì, theo hình thức nào, để ra quyết định kịp thời.
Phương pháp chủ yếu gồm nghiên cứu tài liệu và phân tích văn bản pháp lý; quan sát tham dự của tác giả trong giai đoạn 2019 - 2022 tại Hội An; và nghiên cứu trường hợp hai nền tảng Tracuudi.vn (tra cứu, đóng góp dữ liệu di sản) và Disannoi.vn (thuyết minh số tại điểm đến) do Công ty Cổ phần Giải pháp Công nghệ Connect Vietnam phát triển. Tác giả là người điều hành đơn vị phát triển hai nền tảng này; số liệu về hai nền tảng được lấy từ hệ thống nội bộ và được nêu rõ nguồn.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ
2.1. Một số khái niệm
Di sản sống. Công ước năm 2003 của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể nhấn mạnh di sản được cộng đồng trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và không ngừng được tái tạo (UNESCO, 2003). Hội An là trường hợp điển hình khi di sản vật thể và phi vật thể gắn chặt với đời sống thường ngày của cư dân: một nghề gốm ở Thanh Hà, một nghề mộc ở Kim Bồng, một món bánh đập ở Cẩm Nam đều là “di sản sống” theo nghĩa này.
Dữ liệu sống và sự tham gia của cộng đồng. Trong lĩnh vực di sản, việc huy động công chúng cùng thu thập, mô tả, hiệu đính tư liệu (crowdsourcing) đã được nhiều thiết chế văn hóa trên thế giới áp dụng (Ridge, 2014). Owens (2013) cho rằng giá trị của các dự án này không chỉ nằm ở khối lượng dữ liệu thu được mà ở việc công chúng được gắn kết sâu hơn với di sản. Trong bài viết, khái niệm “dữ liệu sống” được hiểu là dữ liệu di sản tiếp tục được cộng đồng bổ sung, được kiểm chứng và được sử dụng sau khi số hóa, đồng thời mức độ sử dụng ấy được ghi nhận và phản hồi lại cho người quản lý.
Diễn giải di sản và thuyết minh tự hành. Tilden (1957) xác định mục đích của diễn giải di sản là khơi gợi sự hiểu biết và cảm xúc của người tham quan, chứ không chỉ cung cấp thông tin. Hiến chương ICOMOS về diễn giải và trình bày di sản (2008) khuyến nghị việc diễn giải phải tôn trọng tính xác thực, có sự tham gia của cộng đồng và sử dụng công nghệ một cách phù hợp với không gian di tích (ICOMOS, 2008). Thuyết minh tự hành bằng âm thanh, trong đó du khách tự đi theo tuyến và nghe nội dung qua tai nghe cá nhân, đáp ứng khá tốt các yêu cầu này: nội dung được biên soạn có kiểm chứng, không gian tham quan giữ được sự yên tĩnh, và du khách chủ động về thời gian.
Du lịch thông minh và quản trị dựa trên dữ liệu. Gretzel và cộng sự (2015) mô tả du lịch thông minh là việc dùng dữ liệu thu được từ hạ tầng số và hành vi du khách để nâng cao trải nghiệm và hiệu quả quản lý điểm đến. Richards (2018) cũng chỉ ra xu hướng du lịch văn hóa chuyển từ tham quan sang trải nghiệm, đòi hỏi điểm đến phải hiểu rõ hơn nhu cầu của từng nhóm khách.
2.2. Căn cứ pháp lý và chính sách
Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025) có quy định riêng về cơ sở dữ liệu và chuyển đổi số. Điều 85 quy định xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa, trong đó cơ sở dữ liệu của địa phương phải kết nối được với cơ sở dữ liệu quốc gia. Khoản 2 Điều 86 yêu cầu việc phát huy giá trị di sản trên môi trường điện tử phải bảo đảm an toàn cho di sản, tuân thủ quy định về quyền tác giả và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Điều 87 khuyến khích xã hội hóa, trong đó có ứng dụng khoa học, công nghệ và xây dựng cơ sở dữ liệu. Điều 6 xác định bảo vệ di sản là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng, cá nhân và yêu cầu tôn trọng quyền của chủ thể di sản (Quốc hội, 2024a). Nghị định số 308/2025/NĐ-CP ngày 28/11/2025 hướng dẫn chi tiết luật này, nhấn mạnh yêu cầu kết nối, liên thông thống nhất trong hệ thống dữ liệu di sản (Chính phủ, 2025).
Luật Du lịch năm 2017 định nghĩa phát triển du lịch bền vững tại khoản 14 Điều 3, đặt nguyên tắc gắn du lịch với bảo tồn di sản và lợi ích cộng đồng tại Điều 4, và khuyến khích ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại tại Điều 5 (Quốc hội, 2017). Về dữ liệu, Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 tạo khung cho việc thu thập, chia sẻ dữ liệu, kể cả dữ liệu do người dân đóng góp (Quốc hội, 2024b; Quốc hội, 2025b). Ở tầm chủ trương, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị coi chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu (Bộ Chính trị, 2024).
Trong lĩnh vực văn hóa, Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 phê duyệt Đề án Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, với các chỉ tiêu như 100% loại hình di sản được số hóa và chuẩn hóa dữ liệu, 80% di sản văn hóa số thuộc sở hữu công có mã định danh số (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, trong đó du lịch văn hóa là một trong sáu ngành được ưu tiên (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Bảng 1 tóm tắt những yêu cầu mà các văn bản trên đặt ra cho một mô hình chuyển đổi số tại Hội An.
Bảng 1. Căn cứ pháp lý và yêu cầu đối với mô hình đề xuất
|
Căn cứ |
Nội dung chính |
Yêu cầu đối với mô hình |
|
Luật Di sản văn hóa 2024, Điều 85; Nghị định 308/2025/NĐ-CP |
Cơ sở dữ liệu quốc gia; dữ liệu địa phương phải kết nối, liên thông |
Cấu trúc dữ liệu tương thích; xuất, nhập và kết nối được dữ liệu |
|
Luật Di sản văn hóa 2024, khoản 2 Điều 86; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 |
Tuân thủ quyền tác giả, bảo vệ dữ liệu cá nhân khi đưa di sản lên môi trường số |
Ghi nhận tác giả, phạm vi sử dụng và sự đồng ý ngay khi tiếp nhận tư liệu |
|
Luật Di sản văn hóa 2024, Điều 6, Điều 87 |
Trách nhiệm của cộng đồng; xã hội hóa xây dựng cơ sở dữ liệu |
Cơ chế để cộng đồng đóng góp và doanh nghiệp tham gia |
|
Luật Du lịch 2017, Điều 3, 4, 5 |
Phát triển bền vững; lợi ích cộng đồng; ứng dụng công nghệ |
Tour giúp phân tán dòng khách; đo lường được trải nghiệm |
|
Quyết định 611/QĐ-TTg; Quyết định 2486/QĐ-TTg |
Chuẩn hóa dữ liệu, mã định danh số; phát triển du lịch văn hóa |
Mã định danh cho từng tư liệu; báo cáo được đóng góp của di sản |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
3. THỰC TRẠNG DỮ LIỆU DI SẢN VÀ THUYẾT MINH TẠI HỘI AN
Về dữ liệu, Hội An đã tích lũy một khối lượng lớn hồ sơ di tích, công trình nghiên cứu, ảnh tư liệu và tài liệu thuyết minh. Song, như nhiều địa phương khác, công tác số hóa vẫn nghiêng về “số hóa tĩnh”: quét, chụp, lập hồ sơ rồi lưu trong các cơ sở dữ liệu nội bộ hoặc cổng thông tin khó tiếp cận. Sau nghiệm thu, dữ liệu ít được cập nhật và gần như tách khỏi đời sống của chính những cư dân đang hằng ngày giữ gìn di sản. Nhiều tư liệu quý như album ảnh gia đình, ký ức của các cụ cao tuổi ở làng gốm Thanh Hà hay kinh nghiệm của thợ mộc Kim Bồng vẫn nằm ngoài các hệ thống lưu trữ chính thức.
Về thuyết minh, theo quan sát của tác giả, du khách tại Hội An thường rơi vào hai trường hợp. Khách theo đoàn nghe hướng dẫn viên thuyết minh qua loa cầm tay, vừa ồn vừa làm mất sự yên tĩnh vốn là một nét riêng của phố cổ. Khách tự túc thì thường chỉ đi qua các điểm quen thuộc, chụp ảnh rồi rời đi, ít hiểu về những lớp lịch sử phía sau. Hệ thống thông tin qua mã QR mà Trung tâm đưa vào vận hành năm 2026 đã cải thiện đáng kể việc tiếp cận thông tin; bước tiếp theo là gắn các điểm thông tin ấy thành những hành trình có chủ đề và mở rộng ra ngoài vùng lõi.
Về quản lý, số liệu du khách hiện chủ yếu dựa trên lượng vé bán ra và các báo cáo định kỳ. Cơ quan quản lý khó biết khách tập trung ở điểm nào, vào khung giờ nào, quan tâm đến nội dung gì, trong khi đây là những thông tin cần thiết để điều tiết dòng khách và ưu tiên nguồn lực bảo tồn.
4. KINH NGHIỆM THỰC TIỄN TỪ HAI NỀN TẢNG
4.1. Tracuudi.vn: xây dựng “dữ liệu sống” với sự tham gia của cộng đồng
Tracuudi.vn là nền tảng tra cứu và đóng góp dữ liệu di sản, vận hành theo phương châm “Cộng đồng đóng góp - Cộng đồng hưởng thụ”. Tính đến ngày 01/10/2026, hệ thống có 19.456 hồ sơ di tích, lễ hội, làng nghề và 16.789 tư liệu ảnh, video, âm thanh (Connect Vietnam, 2026). Mỗi đối tượng là một hồ sơ có mã định danh và liên kết được với các hồ sơ khác, chẳng hạn một làng nghề liên kết với nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật và các bản ghi hình về nghề.
Kinh nghiệm vận hành cho thấy mở cho cộng đồng đóng góp chỉ bền vững khi đi kèm cơ chế kiểm soát. Trên Tracuudi.vn, mỗi tư liệu ghi tên người đóng góp; người gửi tự xác nhận quyền sở hữu và chọn phạm vi cho phép sử dụng, phù hợp với khoản 2 Điều 86 Luật Di sản văn hóa và pháp luật sở hữu trí tuệ (Quốc hội, 2022). Tư liệu có hình ảnh, giọng nói của người cụ thể cần có sự đồng ý của người đó theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tư liệu cộng đồng không mặc nhiên được xem là đã thẩm định; mỗi nội dung mang một trạng thái (chờ duyệt, đã kiểm tra nguồn, đã được chuyên gia thẩm định) và mọi chỉnh sửa quan trọng đều được lưu vết. Dữ liệu sau khi chuẩn hóa quay trở lại phục vụ giáo dục di sản, nghiên cứu, doanh nghiệp sáng tạo và chính người dân làm du lịch.
4.2. Disannoi.vn: “Chạm di sản bằng âm thanh”
Disannoi.vn (tên tiếng Anh: Heritage Voice) là nền tảng thuyết minh số chạy trực tiếp trên trình duyệt điện thoại: du khách quét mã hoặc mở đường dẫn là nghe được, không phải cài ứng dụng, không phải đăng ký tài khoản và không mất phí. Ở điểm ngoài trời, định vị GPS tự phát thuyết minh khi du khách đi tới; ở điểm trong nhà, nơi tín hiệu GPS kém chính xác, du khách quét mã QR. Khẩu hiệu của nền tảng, “Chạm di sản bằng âm thanh”, cũng là cách tiếp cận cốt lõi: du khách vẫn quan sát di tích bằng mắt mình, còn câu chuyện về nơi họ đang đứng đến qua tai nghe cá nhân, không gây ồn cho người xung quanh.
Đến tháng 10/2026, nền tảng đã giới thiệu khoảng 500 điểm đến trên cả nước (Connect Vietnam, 2026). Việc dùng chung một nền tảng cho nhiều di tích giúp du khách không phải cài mỗi nơi một ứng dụng, trong khi nội dung của từng di tích vẫn thuộc quyền quản lý của đơn vị quản lý di tích đó. Nội dung được biên soạn đa ngôn ngữ, có thể làm nhiều phiên bản từ cùng một hồ sơ gốc: bản ngắn, bản chuyên sâu, bản dành cho học sinh. Với Hội An, phần âm thanh còn có thể lồng những chất liệu bản địa như tiếng hô bài chòi, tiếng mái chèo trên sông Hoài hay tiếng đục gỗ ở Kim Bồng, để câu chuyện về di sản gần hơn với không khí thật của nơi đó.
4.3. Báo cáo linh hoạt mọi lúc, mọi nơi
Điểm khác biệt của cách tiếp cận “dữ liệu sống” là mức độ khai thác tư liệu được ghi nhận liên tục, thay vì dừng ở báo cáo nghiệm thu. Từ hai nền tảng, số liệu được tổng hợp tự động trên bảng theo dõi trực tuyến mà cơ quan quản lý có thể xem trên máy tính hoặc điện thoại bất cứ lúc nào. Tác giả đề xuất theo dõi ở ba mức: tiếp cận (lượt xem, lượt nghe, lượt tải, theo ngôn ngữ và khung giờ); sử dụng (tỷ lệ nghe hết, tỷ lệ đi hết Tour, mật độ lượt nghe theo từng điểm); và tái sử dụng (tư liệu được trích dẫn trong nghiên cứu, dùng trong giảng dạy, đưa vào chương trình Tour, được cộng đồng bổ sung).
Những số liệu này có thể giúp phát hiện các điểm thường xuyên quá tải như khu vực Chùa Cầu hay đường Trần Phú theo từng khung giờ, nhận biết nhóm ngôn ngữ và chủ đề được quan tâm nhiều nhất, đồng thời cung cấp căn cứ để đánh giá đóng góp của di sản vào du lịch văn hóa theo Quyết định số 2486/QĐ-TTg. Số liệu chỉ thống kê ở dạng tổng hợp, không định danh người dùng, phù hợp với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cũng cần lưu ý rằng lượt xem không phải thước đo giá trị của tư liệu; tư liệu chuyên sâu, ít người xem vẫn cần được giới thiệu như mọi tư liệu khác.
5. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO ĐÔ THỊ CỔ HỘI AN
5.1. Xây dựng các Tour tự hành theo chủ đề
Hội An nhỏ, bằng phẳng, các di tích nằm gần nhau và nối được với các làng nghề vùng ven, rất phù hợp với hình thức tham quan đi bộ và đạp xe. Tác giả đề xuất gom các điểm thuyết minh thành các Tour tự hành theo chủ đề, mỗi Tour có bản đồ, thứ tự điểm, lời dẫn nối giữa các điểm và thời lượng dự kiến (Bảng 2). Tour làng nghề có ý nghĩa riêng trong việc đưa khách ra khỏi lõi phố cổ, kéo dài thời gian lưu trú và để chi tiêu của du khách đến trực tiếp với người làm nghề. Tour tự hành chủ yếu phục vụ khách lẻ, không thay thế hướng dẫn viên; hướng dẫn viên có thể dùng chính nền tảng để thuyết minh cho đòan hoặc xây dựng Tour chuyên đề của mình.
Bảng 2. Các Tour tự hành đề xuất
|
Tour |
Hình thức |
Điểm tiêu biểu |
Thời lượng ước tính |
|
Khám phá phố cổ |
Đi bộ |
Chùa Cầu, phố Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Bạch Đằng, nhà cổ Tấn Ký, giếng Bá Lễ, bến sông Hoài, chợ Hội An |
1,5 - 2 giờ |
|
Khám phá hội quán |
Đi bộ |
Hội quán Phúc Kiến, Quảng Triệu, Triều Châu, Hải Nam, Trung Hoa |
1 - 1,5 giờ |
|
Khám phá làng nghề |
Đạp xe |
Làng gốm Thanh Hà, làng mộc Kim Bồng, làng rau Trà Quế; gặp nghệ nhân, trải nghiệm nghề |
Nửa ngày |
Nguồn: Tác giả đề xuất; danh mục điểm và thời lượng cần khảo sát thực địa
5.2. Huy động cộng đồng cùng xây dựng dữ liệu
Có thể phát động chương trình “Mỗi người dân là một đại sứ số”, tổ chức các buổi hướng dẫn tại chỗ để chủ nhà cổ, tiểu thương, nghệ nhân biết cách chia sẻ câu chuyện về ngôi nhà, con phố, nghề của mình lên nền tảng số. Đi kèm là một quy chế tiếp nhận, thẩm định và công bố tư liệu do cộng đồng đóng góp, do Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa thế giới Hội An ban hành, bảo đảm quyền tác giả và quyền riêng tư của người đóng góp.
5.3. Thiết lập hệ thống báo cáo và giám sát dùng chung
Về lâu dài, nên tích hợp dữ liệu từ các nền tảng số di sản, hệ thống vé điện tử và các nguồn liên quan vào một bảng điều hành dùng chung, giúp cơ quan quản lý có bức tranh liên tục về sức tải di sản, hành vi tham quan và mức độ hài lòng của du khách. Hệ thống cần tuân thủ yêu cầu kết nối, liên thông theo Điều 85 Luật Di sản văn hóa và Nghị định số 308/2025/NĐ-CP; dữ liệu chính thức thuộc quyền kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền và xuất được toàn bộ theo định dạng mở để tránh phụ thuộc vào một nhà cung cấp. Có thể bổ sung kênh để du khách và cư dân phản ánh hiện trạng bất thường tại di tích, làm thêm nguồn thông tin tham khảo cho công tác kiểm tra, tu bổ.
5.4. Khuyến khích thuyết minh qua tai nghe trong vùng lõi
Cùng với Tour tự hành, có thể nghiên cứu khuyến khích các đoàn khách sử dụng thiết bị thuyết minh qua tai nghe tại những điểm đông khách trong vùng lõi, từng bước giảm việc dùng loa cầm tay. Đây là biện pháp nhỏ nhưng góp phần giữ lại sự yên tĩnh của phố cổ, cần được bàn bạc với hội nghề nghiệp hướng dẫn viên và doanh nghiệp lữ hành trước khi áp dụng.
5.5. Lộ trình thí điểm và chỉ số đánh giá
Thí điểm có thể thực hiện trong 12 tháng theo cơ chế xã hội hóa tại Điều 87 Luật Di sản văn hóa, trên cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa cơ quan quản lý di sản, doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng (Bảng 3).
Bảng 3. Lộ trình thí điểm đề xuất
|
Giai đoạn |
Thời gian |
Công việc chính |
Sản phẩm |
|
1. Chuẩn hóa |
Tháng 1 - 2 |
Chọn Tour và điểm; rà soát dữ liệu hiện có; thống nhất cấu trúc hồ sơ, nguồn và quyền sử dụng |
Bộ chuẩn dữ liệu; danh mục điểm |
|
2. Xây dựng |
Tháng 3 - 4 |
Biên tập hồ sơ, viết kịch bản, dịch, thu âm; khoanh vùng GPS; gắn mã QR cho điểm trong nhà |
Nội dung thuyết minh ba Tour |
|
3. Vận hành thử |
Tháng 5 - 6 |
Triển khai tại điểm; hướng dẫn cộng đồng đóng góp tư liệu; mở bảng báo cáo |
Ba Tour tự hành hoạt động |
|
4. Đánh giá |
Tháng 7 - 9 |
Phân tích số liệu, ý kiến của du khách, cư dân, nghệ nhân |
Báo cáo đánh giá |
|
5. Mở rộng |
Tháng 10 - 12 |
Thêm Tour, ngôn ngữ; kết nối doanh nghiệp lữ hành, lưu trú |
Đề xuất nhân rộng |
Nguồn: Tác giả đề xuất
Kết quả thí điểm nên được đánh giá trên bốn nhóm chỉ số: chất lượng dữ liệu (tỷ lệ hồ sơ có nguồn, có quyền sử dụng rõ ràng, đã thẩm định, đã gắn mã định danh); trải nghiệm (tỷ lệ nghe hết, tỷ lệ đi hết Tour, mức độ hài lòng); sự tham gia (số người và số tư liệu cộng đồng đóng góp, số nghệ nhân, doanh nghiệp tham gia); và tác động phân tán dòng khách (lượt khách đến các làng nghề vùng ven, thời gian lưu lại).
6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Hội An không phải một bảo tàng mà là một đô thị di sản sống. Kinh nghiệm những năm 2019 - 2022 cho thấy di sản cần thêm những con đường kết nối với công chúng bên cạnh dòng khách trực tiếp. Bài viết đề xuất ba hướng đi gắn với nhau: xây dựng “dữ liệu sống” với sự tham gia của cộng đồng; thuyết minh tự hành bằng âm thanh theo các Tour chủ đề; và cơ chế báo cáo trực tuyến giúp cơ quan quản lý theo dõi, điều chỉnh kịp thời. Các hướng đi này phù hợp với Luật Di sản văn hóa năm 2024, Luật Du lịch năm 2017 và các chủ trương về chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa hiện hành.
Trên cơ sở đó, tác giả kiến nghị: (1) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng xem xét ban hành bộ chuẩn dữ liệu di sản dùng chung và đưa nội dung số hóa, thuyết minh số tại Hội An vào kế hoạch thực hiện Quyết định số 611/QĐ-TTg của thành phố; (2) Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa thế giới Hội An chủ trì thí điểm các Tour tự hành, ban hành quy chế tiếp nhận tư liệu cộng đồng và kết nối các Tour với hệ thống vé, thuyết minh hiện có; (3) UBND phường Hội An và các xã, phường có làng nghề phối hợp vận động cư dân, nghệ nhân tham gia; (4) doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp du lịch tham gia theo cơ chế xã hội hóa, với nguyên tắc dữ liệu chính thức luôn thuộc quyền kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền.





