Đôi câu đối của cụ Bùi Kỷ soạn tại chùa Hồng Ân

Núi Đọi – sông Châu là biểu tượng sông núi linh thiêng của tỉnh Hà Nam cũ, mang những dấu tích minh chứng cho sự phát triển của con người và văn hóa xã hội trong dòng chảy lịch sử bất tận. Trước đây khi đường bộ chưa phát triển, sông Châu là đường giao thông cho cả vùng châu thổ sông Hồng. Từ thời Tiền Lê – Lý vùng này có lễ hội cày tịch điền Đọi Sơn, có chùa Long Đọi Sơn cổ kính. Nếu hỏi văn hóa Hà Nam có gì khác biệt so với văn hóa vùng châu thổ sông Hồng thì câu trả lời là có văn hóa Chăm trên đôi bờ sông Châu Giang: lúa Chiêm. Dòng nước ngọt ngào phù sa của dòng sông Châu Giang đã sản sinh nuôi dưỡng nên nhiều tướng tài, khoa bảng, nhà khoa học, danh nhân văn hóa, trong có Châu Giang Phó Bảng Ưu Thiên Bùi Kỷ phụng soạn nên đôi câu đối trong chùa Hồng Ân tại Tư Can. Thời điểm lịch sử niên đại thành lập ngôi chùa Hồng Ân lúc đó là thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến, gắn với nhiều biến cố sự kiện quan trọng của lịch sử trong nước và quốc tế: Thực dân Pháp vẫn cai trị nước Đại Nam, năm 1926 vua Bảo Đại lên ngôi, chiến tranh thế giới thứ 2 xảy ra. Năm 1943, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp nhưng cũng có nhiều thời cơ để tiến hành cuộc cách mạng xã hội đánh đổ ngoại xâm và tay sai, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Đảng ta xác định rõ “Cách mạng là văn hóa, văn hóa là cách mạng”. Tháng 2 năm 1943, Đề cương văn hóa việt Nam ra đời, được coi như Bản tuyên ngôn, cương lĩnh của Đảng về lĩnh vực văn hóa, định hướng cho nhận thức, phương châm hoạt động văn hóa nghệ thuật của toàn Đảng toàn dân, là ngọn đèn soi sáng cho nền văn hóa Việt Nam hiện đại sau này, trở thành nguồn lực phát triển đất nước. Thời điểm ấy xã Tư Can hay vùng quê cụ Bùi Kỷ là những vùng mang đậm văn hóa sông nước cùng trong địa phận tỉnh Hà Nam, cùng chung văn hóa vùng sông Châu núi Đọi. Ý và lời trong các bộ hoành phi câu đối luôn nhấn mạnh, đề cập đến đặc trưng sông nước nơi đây. Và như một nhân duyên, học giả Bùi Kỷ với kiến thức uyên thâm, tinh thâm cả Nho học, văn hóa phương Tây và Phật giáo, cụ đã viết tặng đôi câu đối cho chùa. Đó là bút tích của danh nhân quốc gia dân tộc. ▪ Câu đối vế phải: 浩刧無衆⽣像教可以不破 HẠO KIẾP VÔ CHÚNG SINH TƯỢNG GIÁO KHẢ DĨ BẤT PHÁ Dịch nghĩa: Dù trải qua kiếp nạn lớn lao mà không có chúng sinh thì giáo pháp cũng không thể bị hủy hoại. Diễn giải: "Hạo kiếp" là kiếp nạn lớn, kiếp hoại diệt. "Vô chúng sinh" có thể hiểu là không còn một chúng sinh nào. "Tượng giáo" là giáo pháp của Đức Phật. Câu này nhấn mạnh rằng giáo lý của Phật giáo có sức mạnh và giá trị vượt qua cả sự tồn tại của chúng sinh và sự hủy diệt của thời gian. Dù thế giới có diệt vong, chúng sinh có tan biến, thì chân lý của đạo Phật vẫn tồn tại. Câu đối vế trái: 癡迷是解脫悟境何莫⾮禪 SI MÊ THỊ GIẢI THOÁT NGỘ CẢNH HÀ MẠC PHI THIỀN Dịch nghĩa: Sự si mê chính là giải thoát, cảnh giới giác ngộ thì sao lại không phải là Thiền. Diễn giải: Câu này thể hiện một triết lý sâu sắc của Phật giáo. Si mê và giải thoát không phải là hai khái niệm đối lập hoàn toàn. Khi người ta nhận ra bản chất của sự si mê, thấu hiểu nó, thì chính sự nhận thức đó đã là một bước trên con đường giải thoát. Tương tự, cảnh giới của giác ngộ không phải là một nơi xa xôi mà nằm ngay trong mọi sự vật, mọi khoảnh khắc. Khi đã đạt được sự thấu hiểu, thì dù là cảnh giới nào, vật thể nào cũng đều hàm chứa tinh thần Thiền. Lạc khoản (vế phải): 本社裁縫會仝拜進 Bản Xã Tài Phùng Hội Đồng Bái Tiến! - Dịch nghĩa: Toàn thể Hội Thợ May của làng này cùng nhau thành kính dâng cúng! Lạc khoản (bên phải của vế trái): ⿓⾶癸未春 Long Phi Quý Mùi Xuân Nghĩa là "Mùa xuân năm Quý Mùi". Tức năm 1943 dương lịch[8]. Lạc khoản (bên trái của vế trái): 珠江副榜憂天裴杞奉撰 Châu Giang Phó Bảng Ưu Thiên Bùi Kỷ Phụng Soạn Dịch nghĩa: Phó Bảng sông Châu là Bùi Kỷ tự Ưu Thiên kính cẩn soạn! Diễn giải: Lạc khoản này cho biết người soạn câu đối là ông Bùi Kỷ, tên chữ là Ưu Thiên, quê ở vùng sông Châu. Ông có học vị Phó Bảng, là một người tài năng, đỗ đạt. Câu đối được sáng tác bởi một người có kiến thức uyên thâm, và "phụng soạn" thể hiện thái độ kính cẩn, trang trọng.