Các đôi câu đối tại tòa Tam Bảo chùa Hồng Ân

Câu đối vế phải: 妙智神通慧⽇光開染⽔ DIỆU TRÍ THẦN THÔNG TUỆ NHẬT QUANG KHAI NHIỄM THỦY Dịch nghĩa: Trí tuệ vi diệu, thần thông rộng lớn, ánh sáng mặt trời trí tuệ khai mở dòng nước Nhiễm. (Thần thông trí màu vầng nhật tuệ sáng soi nhuộm màu nước) Diễn giải “Nhiễm thủy” có thể là chỉ tên của vùng đất cổ xã Bài Nhiễm cũng ngập tràn sông nước – sông nước Bài Nhiễm; cũng có thể tả cảnh ánh nắng mặt trời lung linh lấp lánh khi chiếu soi mặt nước rộng lớn thì đầm lầy nước đọng cũng nhuộm bừng lên sắc màu tươi thắm rực rỡ - nhuộm màu nước; hoặc cũng có hàm ý phản ánh đời sống sinh hoạt kinh tế văn hóa xã hội của cư dân thời xưa làm nghề nhuộm vải, cắt may, những bộ “áo nâu nhuộm bùn”. Vế đối này ca ngợi sức mạnh vô biên của Phật Pháp. Chư Phật vốn trí thuệ vi diệu thần thông quảng đại, Ngài dùng trí tuệ như ánh mặt trời soi chiếu, cảm hóa khiến cho người dân, chúng sinh được giác ngộ[7]. Cái xấu cái ác cũng được cảm hóa, quy phục bởi những điều thiện lương. Câu đối vế trái: ⽞髙廣⼤慈雲遍覆斯江 HUYỀN CAO QUẢNG ĐẠI TỪ VÂN BIẾN PHÚ TƯ GIANG Dịch nghĩa: Huyền diệu, cao cả, rộng lớn, mây lành từ bi bao trùm sông Tư. (Cao cả rộng lớn áng mây lành che phủ khắp dòng sông) Diễn giải: Câu này tiếp tục khẳng định sự từ bi, bao la của Phật Pháp.